Nhìn màn hình điện tử liên tục, mắt chịu những ảnh hưởng nào?
Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ khô mắt trên thế giới dao động từ 5–50% dân số, trong đó tại nhiều quốc gia châu Á có thể khoảng một phần ba dân số.
Thông tin trên được TS-BS Trần Minh Huy, giảng viên Bộ môn Mắt-Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TPHCM, bác sĩ Khoa Khúc xạ-Bệnh viện Mắt TPHCM, chia sẻ tại buổi khởi động chương trình tầm soát khô mắt sớm cho cộng đồng và ra mắt bộ câu hỏi tầm soát chuẩn y khoa do FPT Long Châu phối hợp cùng Santen (Nhật Bản) tổ chức, ngày 7-3.

Đội ngũ dược sĩ tại các hệ thống nhà thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn, phát hiện sớm và hướng dẫn chăm sóc khô mắt cho người dân.
Theo BS Huy, khô mắt là bệnh lý đa yếu tố, đặc trưng bởi sự mất cân bằng của lớp phim nước mắt, lớp màng mỏng bao phủ bề mặt nhãn cầu, giúp duy trì độ ẩm và bảo vệ mắt. Lớp phim này gồm ba thành phần chính: Lớp mỡ giúp hạn chế bay hơi nước mắt, lớp nước cung cấp độ ẩm và lớp nhầy giúp nước mắt bám đều trên bề mặt mắt. Khi một trong ba lớp này bị rối loạn, nước mắt có thể bay hơi nhanh hoặc không được giữ lại trên bề mặt nhãn cầu, dẫn đến tình trạng khô mắt. Đây cũng là lý do nhiều người dù bị khô mắt nhưng vẫn có hiện tượng chảy nước mắt sống.
Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ khô mắt trên thế giới dao động từ 5–50% dân số, trong đó tại nhiều quốc gia châu Á có thể lên đến khoảng một phần ba dân số. Nguy cơ mắc bệnh tăng theo tuổi và phụ nữ có xu hướng bị ảnh hưởng nhiều hơn do yếu tố nội tiết, đặc biệt trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh. Ngoài ra, một số bệnh lý liên quan như rối loạn chức năng tuyến Meibomian, tuyến tiết lớp mỡ của phim nước mắt hoặc các bệnh tự miễn cũng có thể làm giảm tiết nước mắt hoặc tăng tốc độ bay hơi nước mắt, từ đó gây khô mắt.
Bên cạnh các yếu tố bệnh lý, lối sống hiện đại cũng góp phần khiến tình trạng khô mắt gia tăng. Việc sử dụng máy tính, điện thoại trong thời gian dài, làm việc trong môi trường điều hòa, độ ẩm thấp, tiếp xúc với khói bụi hoặc ánh sáng xanh từ màn hình đều làm giảm tần suất chớp mắt và khiến nước mắt bay hơi nhanh hơn. Đáng chú ý, người đeo kính áp tròng cũng có nguy cơ khô mắt cao hơn, đặc biệt nếu sử dụng dung dịch bảo quản không đúng cách.
Dù không phải bệnh lý nguy hiểm ngay lập tức, khô mắt có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Khi lớp phim nước mắt mất ổn định, thị giác có thể bị suy giảm, gây khó khăn cho các hoạt động thường ngày như đọc sách, làm việc với máy tính hoặc lái xe. Một số nghiên cứu cho thấy người mắc khô mắt có thể giảm hiệu suất làm việc từ 2 đến 8 lần so với người bình thường. Nếu không được kiểm soát tốt, bệnh còn có thể gây tổn thương bề mặt giác mạc, làm tăng nguy cơ viêm, trầy xước hoặc nhiễm trùng mắt.
Trong thực hành lâm sàng, chẩn đoán khô mắt thường dựa trên triệu chứng kết hợp với khám mắt. Trong các chương trình sàng lọc cộng đồng, bảng câu hỏi OSDI (Ocular Surface Disease Index) gồm 12 câu hỏi thường được sử dụng để đánh giá mức độ khó chịu ở mắt và ảnh hưởng của bệnh đến sinh hoạt.
Theo BS Huy, trong bối cảnh sử dụng thiết bị điện tử ngày càng nhiều, khô mắt đang trở thành một bệnh lý cộng đồng. Vì vậy, việc tăng cường truyền thông, sàng lọc sớm và quản lý tốt tình trạng này là cần thiết. Trong đó, nhà thuốc và dược sĩ cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn, phát hiện sớm và hướng dẫn người dân chăm sóc mắt đúng cách, góp phần cải thiện chất lượng thị giác và chất lượng cuộc sống.












