Nhớ một người viết tử tế
Hăm ba tết, ngày ông Táo chầu giời, mới tờ mờ sáng đã thấy xe máy nhà văn Dương Duy Ngữ đỗ xịch ở trước cửa: Hôm nay em sẽ đưa bác lên thăm vườn lan nhà thầy Dương Xuân Trinh, Chủ tịch Hội lan Hà Nội.
Từ lúc tới nhà thầy Trinh, tiếp xúc với các loài lan kỳ hoa dị thảo, gặp gỡ các đại gia về nghệ thuật nuôi lan, chơi lan, tôi như chim chích lạc rừng, như vịt nghe sấm, có hiểu mô tê gì đâu; trong khi đó thì Ngữ như hổ về rừng, như cá ra sông, như Triệu Tử Long tả xung hữu đột, chen vai thích cánh, luận bàn, bình phẩm ngang ngửa với các bậc trưởng lão trong lĩnh vực này.
Ôi! Tai tôi ù ù lên khi nghe Ngữ giải thích cho biết nhận dạng và đặc điểm của các loài lan. Từ quý hiếm như thanh ngọc, mặc biên, ô tử thúy, đào cơ, đến các loài lan dễ trồng như hoàng thảo vẩy rồng, quế lan hương, ngọc điểm, đai châu… Nhờ Ngữ, tôi nhận ra, hồng hoàng cánh hoa mỏng như lụa, có màu xanh pha vàng, hồ điệp Đà Lạt cánh hoa rậm ròa, với một giò hoa điểm mấy đóa tím biếc, cánh tròn như đồng tiền. Còn đai châu Trường Sơn nhìn kỹ thấy giống như cái bờm tóc điểm các hạt châu ngọc của một phu nhân quyền quý.

Nhà văn Dương Duy Ngữ.
Trời ạ! Ngữ đang dẫn tôi vào một vùng hoa có tới 900 loài thuộc 152 chi, một miền vương giả hương thanh nhã bất phàm, không một loài thảo mộc nào có thể sánh vai. Là bởi vì, hương lan không sực nức như hoa ly, hương lan quanh quất, quấn quyến, khi gần khi xa, lúc tỏ lúc mờ. Là bởi vì, lan cố tình để cho ta không chỉ biết đến cái hình sắc yêu kiều, quý phái của lan, mà còn thấm thía cái phẩm cách cao diệu, cái thần thái sâu kín, thuần khiết của lan.Chao ôi! Người xưa coi lan là thứ danh hoa tuyệt phẩm,và cho rằng thứ quốc hương này chỉ có thể kết tri với người đại nhã, bậc triết nhân quả là không sai!
- Bác Kháng à! Em đã đọc tiểu thuyết "Chó Bi, đời lưu lạc" của bác. Bác viết về con chó hay lắm! Nhưng xin hỏi, bác đã biết cách chọn chó con chưa?
- Thú thật với Ngữ, sau khi đã nuôi 2 con chó, quan sát kỹ lưỡng sinh hoạt, tập tính của chúng, mình mới viết cuốn sách đó. Còn về cách chọn chó con…
- Thế này, bác ạ. Bê cả rổ chó con ra cửa, đổ xuống đất, con nào bò vào nhà đầu tiên thì bác chọn.Cách thứ hai là, con nào đầu củ khoai, tai lá sồi, đuôi vòi mằng, răng gạo nếp thì bác chọn.
Chà, ông nhà văn họ Dương bạn vong niên của tôi thóc mách lắm chuyện nhỉ!Chơi với Ngữ ít lâu, tôi càng nhận ra, anh là một tổng kho hiểu biết các câu chuyện ngóc ngách trong đời sống thường ngày. Biết tôi ở Lào Cai, anh hỏi, có hay đi câu cá ở chân cầu Cốc Lếu không? Vùng ấy có nhiều cá anh vũ lắm. Cá anh vũ con nào mõm cũng vều vì ăn rêu đá. Còn cá lăng làm chả cá thì chủ yếu sống ở cửa sông Hồng. Nhưng cũng có chàng nàng phởn chí ngược dòng lên xa tới bốn năm cây số kia.
Nghe anh nói về cây cỏ, chim cá mới thấy anh là con người của đời sống hiện thực, một anh nhà văn rất chịu khó lặn lội trong cuộc sống thực tế nhân gian. Thú thật là trong tiểu thuyết "Một mình một ngựa" của mình, các chi tiết về chó, về ngựa, về cách bắt ông thiềm thừ - và cách làm thịt cậu ông giời này là tôi hỏi, tôi vay mượn của Ngữ cả đấy!
Anh đã có cả loạt truyện ngắn tài tình về lan, về các loài hoa, về cây cỏ chim muông. Đọc các tập truyện: "Người hùng", "Mưa tiên", "Rước chữ", "Mặc Phúc Xuyên"… các tiểu thuyết "Làng Gồ", "Người giữ đình làng"… của anh, tôi thật sự thú vị về sự hiểu biết cặn kẽ cuộc sống nơi làng quê người Việt của anh.
Bằng trải nghiệm sâu xa, Ngữ đang sở hữu một kho tàng các hiểu biết kỹ lưỡng về nhiều mặt đời sống, các dữ kiện quan trọng hợp thành của văn xuôi. Sách của anh là một tập đại thành về cuộc sống phong phú, đa hình đa sắc với các phong tục tập quán lâu đời còn sâu rễ bền gốc ở làng quê ta.
“Thật là những làng quê có một đời sống tinh thần vô cùng giàu có và sang trọng. Văn xuôi Dương Duy Ngữ, nơi lưu giữ hồn quê dân tộc! Đọc chúng thấy cuộc đời có bao nhiêu điều kỳ thú là vậy!”. Đó là đánh giá của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm hồi còn là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện "Rước chữ", tác phẩm được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998 của anh. Về một mặt nào đó, nhận xét trên cũng có thể dùng để đánh giá tiểu thuyết “Người giữ đình làng”, tác phẩm được tặng thưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2011.
Nhà văn Dương Duy Ngữ viết văn như tằm rút ruột nhả tơ. Viết cái gì là đã hiểu được thấu đáo, tận tưởng nó, hiểu đến mức hiểu của một nhà chuyên môn có tài và thâm niên nghề nghiệp. “Hèn nào mà anh viết về hoa say đắm thế!”. Đó là lời khen tấm tắc của một cụ trong Hội lan Hà Nội với Ngữ khi chia tay.
Lời khen ấy tôi nghĩ, có thể dùng để nói về nhiều tác phẩm anh đã viết về làng quê Việt Nam. Trong cái dòng chảy âm thầm của đời sống, hiện ra ở nếp sống, ở phong tục tập quán, ở quan hệ giữa người với người, với thế giới hữu hình và vô hình, hiện lên là một làng quê người Việt đầy hương vị cổ kính, sống có lề luật, phép tắc, có văn hóa và sang trọng.
"Người giữ đình làng" là cuốn tiểu thuyết xuất sắc của nhà văn trong cái mạch văn dồi dào, tưởng như không biết vơi cạn này của anh. Làng quê, cuộc sống của những con người ở đây, anh thuộc lắm. Anh thuộc lời ăn tiếng nói của con người ở địa bàn này. Anh hiểu kỹ lưỡng về cảnh về việc. Tôi là người thích đọc văn bạn để học chữ và chi tiết. Những chữ hay, chữ mới lạ của anh trong tiểu thuyết này, tôi ghi đặc hai trang sổ tay.
Bạn đã từng phải vác một cây tre đực dài bao giờ chưa? Bạn hãy đọc đoạn tả sự việc này để thấy cái tài tình chữ nghĩa nhà văn, để làm một trắc nghiệm về cái tài tả việc của nhà văn. Tuy nhiên, với nghề văn, thì ai cũng hiểu chi tiết thì cuối cùng cũng vẫn là chi tiết. Và điều quan trọng còn là ở những chỗ khác.
Điều quan trọng còn là ở chỗ cái đình đâu chỉ là cái nhà to, được xây cất bằng gỗ lớn, đá tảng có quy mô bề thế. Không, cái nhà lớn sở dĩ nó trở thành cái đình thiêng liêng vì đó là một ngôi đền thờ đặc biệt, nơi tế tự vị thành hoàng làng, nơi khắc cốt minh tâm lòng tri ân với tiên tổ, nơi phản chiếu đời sống tâm linh và là biểu trưng tinh thần cộng thể của người Việt vùng châu thổ Sông Hồng, quê anh.
Tôi nghĩ, văn chương cũng giống như chuyện cái đình nói trên, đằng sau câu chữ, chất liệu là cái chiều sâu thăm thẳm của đời sống tâm hồn con người. Người xưa chẳng đã từng nói: “Núi không cần cao, nhưng cần có tiên đến ở. Nước không cần sâu, nhưng cần có con giao long vẫy vùng. Phàm mọi vật đều có linh thể cả”.

Tiểu thuyết của tác giả Dương Duy Ngữ.
Xuất ngũ với quân hàm Đại tá. Trong chiến tranh Ngữ là pháo thủ cao xạ pháo 57 ly. Chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường từ Hà Nội, Khu Tư tới nước bạn Lào. Pháo thủ số 5 chuyên trách việc nạp đạn. Mỗi lần nạp 2 băng. Mỗi băng 4 viên, nặng 49 kilô. Để nạp được đạn phải thực hiện thao tác quay khóa nòng 75 kí, rất nặng nhọc. Nhiều trận đánh ác liệt ở cầu Hàm Rồng phải nạp tới cả trăm viên. Có hôm tai điếc đặc, máu cam chảy ròng ròng. May mà còn sống cho tới ngày hôm nay.
Nói may là sự thật! Vì anh còn nhớ như in, đó là ngày 27 tháng 7 năm 1967, vì đang là cộng tác viên của Báo Quân đội nhân dân, nên hôm đó khẩu đội đang trực chiến ở bãi Nghĩa Dũng - Yên Phụ Hà Nội, thì anh được triệu tập đi học một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ viết báo. Lớp học diễn ra chỉ có một ngày. Sáng đi, chiều trở lại thì trước mắt anh, nơi khẩu đội trực chiến chỉ còn là một hố bom sâu hoắm. Cả khẩu đội 7 anh em đồng chí chẳng còn lại một ai! Không còn nước mắt để khóc đồng đội nữa!
Cùng với các tác phẩm viết về nông thôn, các tập truyện: "Sắc trời", "Hạnh phúc của tôi"… các tiểu thuyết: "Phía trước mũi súng", "Lộc giời", "Chú em họ và tôi", "Súc miệng bằng đất", "Nhất tướng"… lấy đối tượng miêu tả là chiến tranh và người lính của nhà văn Dương Duy Ngữ, chính là máu thịt cuộc đời đầy gian khó và sống tận tụy hết mình của chính anh.
Sinh thời Dương Duy Ngữ đã nhận được Giải thưởng của Bộ Quốc phòng 1989-1994 cho tập truyện “Người hùng”. Giải thưởng của Hội Nhà văn cho tập truyện ngắn “Rước chữ”. Giải thưởng của Bộ Quốc phòng cho Tiểu thuyết “Lộc giời”. Giải thưởng Văn học sông Mê Kông cho tác phẩm “Chuyện lạ nước Lào”. Và năm 2022, nhà văn được truy tặng Giải thưởng Nhà nước với Tập truyện ngắn xuất sắc “Rước chữ”.
Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/tu-lieu-van-hoa/nho-mot-nguoi-viet-tu-te-i796837/











