Những động lực mới ở vùng cao Quảng Trị

Những năm gần đây, cùng với việc triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia và nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều địa phương vùng cao Quảng Trị đang từng bước tìm ra hướng đi mới trong phát triển sinh kế. Không còn chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân đã chủ động thay đổi cách nghĩ, cách làm, mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất để tạo dựng cuộc sống ổn định hơn trên chính mảnh đất quê hương.

Từ những nương rẫy trước đây chủ yếu trồng sắn, lúa rẫy, nay nhiều bản làng đã bắt đầu xuất hiện các mô hình trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, trồng rừng sản xuất. Dù còn khiêm tốn, những chuyển động ấy đang từng bước mở ra động lực mới cho sự đổi thay của vùng cao Quảng Trị.

Mở rộng sinh kế từ nội lực của người dân

Bản Lương Năng, xã Kim Điền là nơi sinh sống lâu đời của đồng bào người Chứt. Trước đây, đời sống của nhiều hộ dân trong bản chủ yếu dựa vào nương rẫy, sản xuất manh mún nên thu nhập bấp bênh. Những năm gần đây, nhờ nguồn vốn tín dụng chính sách và các lớp tập huấn kỹ thuật do chính quyền địa phương tổ chức, nhiều gia đình đã mạnh dạn thay đổi cách làm kinh tế, từng bước chuyển sang phát triển mô hình vườn cây ăn quả.

Một mùa vàng ở xã rẻo cao Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị.

Một mùa vàng ở xã rẻo cao Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị.

Gia đình anh Cao Tần là một trong những hộ điển hình của sự chuyển đổi ấy. Từ khoản vay ban đầu 30 triệu đồng, anh cải tạo khu vườn tạp quanh nhà, trồng xen nhiều loại cây như mít, hồng xiêm, cam, bưởi, ổi… Sau nhiều năm chăm sóc, khu vườn dần xanh tốt, nhiều loại cây đã bước vào giai đoạn cho thu hoạch ổn định. Những ngày vào vụ, dưới tán cây xanh mướt, vợ chồng anh lại tất bật hái quả, phân loại rồi tập kết bên hiên nhà để thương lái đến thu mua.

Chị Hồ Thị Lươn – vợ anh Tần, vừa thoăn thoắt cắt những chùm ổi chín vừa chia sẻ: “Ngày trước gia đình chỉ trồng sắn với lúa rẫy nên thu nhập bấp bênh lắm. Từ khi được tập huấn kỹ thuật và vay vốn để làm vườn, cuộc sống dần ổn định hơn. Giờ cây đã cho quả, có thương lái đến tận nơi thu mua nên bà con cũng yên tâm làm ăn”.

Đến nay, khu vườn của gia đình anh Tần đã phát triển với gần 2.000 gốc cây ăn quả các loại. Riêng năm 2025, gia đình anh thu về hơn 100 triệu đồng từ bán trái cây tại vườn – mức thu nhập trước đây khó có thể nghĩ tới đối với một hộ đồng bào miền núi vốn chỉ quen với nương rẫy.

Không chỉ ở Kim Điền, tại xã Dân Hóa, nhiều hộ đồng bào Khùa, Mày cũng đang từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất để cải thiện sinh kế. Ở bản La Trọng 1, phía sau căn nhà sàn của chị Hồ Thị Bướm, chuồng lợn được dựng kiên cố, sạch sẽ. Mỗi buổi sáng, chị lại xách xô cám ra cho đàn lợn ăn, kiểm tra chuồng trại rồi dọn dẹp gọn gàng.

Chị Bướm kể, trước đây gia đình chị chủ yếu sống nhờ nương rẫy nên khó khăn lắm. Từ khi được hỗ trợ lợn giống và hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, chị nuôi thêm đàn lợn để cải thiện kinh tế, mỗi năm bán vài lứa cũng có thêm tiền. Nhờ nguồn thu từ chăn nuôi, gia đình chị đã sửa sang lại nhà cửa, lo cho con cái học hành đầy đủ hơn. Từ vài con lợn giống ban đầu, đàn lợn của gia đình dần tăng lên theo từng lứa.

Chợ ở vùng biên giới Lìa, tỉnh Quảng Trị đầy ắp các mặt hàng nông sản.

Chợ ở vùng biên giới Lìa, tỉnh Quảng Trị đầy ắp các mặt hàng nông sản.

Câu chuyện của chị Bướm cũng là hình ảnh quen thuộc ở nhiều bản làng vùng cao Dân Hóa, khi bà con từng bước chuyển từ canh tác nương rẫy sang những mô hình sản xuất có tính toán hơn, tạo thêm nguồn thu ổn định cho gia đình.

Theo ông Trương Công Thắng, Phó Chủ tịch UBND xã Dân Hóa, với đặc thù là địa bàn miền núi, biên giới, hơn 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, địa phương đặc biệt chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức và đa dạng hóa các mô hình sản xuất.

“Chúng tôi xác định muốn giảm nghèo bền vững thì trước hết phải giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất, biết tận dụng lợi thế đất đai, khí hậu để phát triển kinh tế", ông Thắng cho biết.

Khơi dậy nguồn lực phát triển từ văn hóa và chính sách

Bên cạnh phát triển sinh kế, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống cũng đang mở ra những cơ hội mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Công an xã miền núi Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị đồng hành cùng người nông dân trong chăm sóc, bảo vệ và thu hoạch cà phê.

Công an xã miền núi Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị đồng hành cùng người nông dân trong chăm sóc, bảo vệ và thu hoạch cà phê.

Theo ông Đặng Đông Hà, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, sau gần 5 năm triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Bru – Vân Kiều, Pa Kô đã được phục hồi. Các hoạt động sưu tầm, tư liệu hóa di sản, truyền dạy văn hóa phi vật thể, xây dựng câu lạc bộ dân gian, đội văn nghệ cộng đồng… giúp những làn điệu dân ca, nhạc cụ truyền thống hay lễ hội bản làng có cơ hội trở lại đời sống.

Trong những buổi sinh hoạt cộng đồng ở các bản làng, tiếng chiêng, tiếng trống lại vang lên bên bếp lửa, những điệu múa truyền thống được lớp trẻ học lại từ các nghệ nhân lớn tuổi. Không khí sinh hoạt văn hóa ấy đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của người dân vùng cao.

Quan trọng hơn, nhiều địa phương bắt đầu kết nối các giá trị văn hóa bản địa với phát triển du lịch cộng đồng. Một số địa bàn như Trường Sơn, Còi Đá, Tà Rụt bước đầu hình thành sản phẩm du lịch dựa trên không gian văn hóa truyền thống của bản làng. Khi lễ hội được phục dựng, nghệ nhân được hỗ trợ và cộng đồng cùng tham gia gìn giữ di sản, những yếu tố ấy dần trở thành nền tảng để phát triển du lịch – một hướng sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.

Ở vùng biên giới La Lay, câu chuyện thoát nghèo còn gắn với sự đồng hành của nhiều lực lượng nơi tuyến đầu. Từ năm 2018, lực lượng Bộ đội Biên phòng Quảng Trị triển khai chương trình “Dê giống khởi nghiệp”.

Phụ nữ Pa Cô, Vân Kiều ở xã biên giới Tà Rụt, tỉnh Quảng Trị chế biến măng bán ra ngoài tỉnh.

Phụ nữ Pa Cô, Vân Kiều ở xã biên giới Tà Rụt, tỉnh Quảng Trị chế biến măng bán ra ngoài tỉnh.

Gia đình anh Hồ Văn Thuở ở thôn A Đeng là một trong những hộ đầu tiên được hỗ trợ một cặp dê giống. Hằng ngày, trên sườn đồi phía sau nhà, đàn dê của anh Thuở thong thả gặm cỏ. Anh vừa kiểm tra chuồng trại vừa kể: “Hồi mới nhận dê giống cũng lo lắm, sợ nuôi không được. Nhưng cán bộ biên phòng thường xuyên xuống hướng dẫn cách chăm sóc nên đàn dê phát triển tốt”.

Sau vài năm, đàn dê của gia đình anh đã phát triển lên hơn 20 con. Theo quy ước của chương trình, khi đàn dê sinh sản ổn định, gia đình sẽ trích lại một cặp dê giống để trao cho hộ khác trong bản. Nhờ cách làm “quay vòng” này, mô hình dần được nhân rộng ra nhiều thôn bản.

Thiếu tá Nguyễn Văn Tám, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế La Lay cho biết, ngoài dê giống, đơn vị còn hỗ trợ ngan giống, gà giống và hướng dẫn người dân phát triển chăn nuôi. Bên cạnh đó, lực lượng Công an xã La Lay cũng thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và bộ đội biên phòng trong việc nắm tình hình đời sống của người dân, vận động bà con tham gia các mô hình phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống.

Theo ông Phạm Xuân Khánh, Bí thư Đảng ủy xã La Lay, chính quyền địa phương luôn phối hợp với các lực lượng đứng chân trên địa bàn để lựa chọn đúng đối tượng tham gia các mô hình hỗ trợ, đồng thời theo dõi, hướng dẫn để người dân sử dụng hiệu quả nguồn hỗ trợ.

Thanh Bình

Nguồn CAND: https://cand.com.vn/xa-hoi/nhung-dong-luc-moi-o-vung-cao-quang-tri-i799669/