Những món nợ bí mật của ngày sát Tết

Bà dặn ngày Tết, có khách hay khi nào bố mẹ, cậu dì tôi về thì không được đong gạo nấu cơm ở cái chum đó. Bữa nào mọi người đi hết, chỉ có bà cháu mình thì hãy lấy gạo trong chiếc chum ấy nấu.

Làng tôi ngày xưa nghèo lắm. Làng dường như chỉ có người già và trẻ em. Cứ chiều chiều người già dắt trẻ con đi hóng gió hay ngồi dưới gốc đa, rặng tre. Lớp thanh niên và trung niên đều vắng bóng vì đi làm xa nhà.

Có người đi biền biệt cả tuần, cả tháng mới về qua nhà một lần. Cũng có người rời nhà từ lúc tờ mờ sáng ra bến đò để sang bên kia sông làm thuê cho đến tối xẩm mới về.

Chỉ có những ngày Tết, không còn ai thuê mướn nữa thì làng đông vui đến lạ. Họ hàng, làng xóm rồng rắn chúc tụng nhau rôm rả cả mấy ngày Tết.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Bà ngoại nhiều năm có một sạp hàng nhỏ bán ở góc làng với cút rượu, cái bánh đa, bánh quế, gói muối, chai mắm... Lãi lờ chẳng đáng là bao mà sổ nợ thì ghi chi chít từ chén rượu, hộp diêm, gói kẹo bột... Mấy cậu, dì và mẹ tôi chỉ biết thở dài và bảo bà đừng bán hàng nữa kẻo có ngày cụt vốn. Nhưng bà vẫn kệ, cần mẫn bán hàng hết năm này qua năm khác, mặc kệ cuốn sổ nợ ngày một dày thêm.

Không những thế, mỗi dịp sát Tết, bà vừa bán hàng còn vừa ngồi chẻ lạt. Bà chẻ nhiều lắm, dù số người mua rất ít, vì hầu như cả làng ai cũng có thể chẻ lạt gói bánh chưng.

Các cậu các dì sốt ruột bảo bà sao cứ làm khổ mình vậy, bà già rồi ở nhà chơi với con cháu cho vui, cho khỏe, còn bon chen bán hàng làm gì cho mang tiếng bắt người già gánh vác kinh tế. Và rồi cũng như nhiều lần, bà lại bỏ ngoài tai những lời ấy và tiếp tục bán hàng.

Có lần ngủ với bà, tôi thủ thỉ hỏi những điều vô lý ấy. Bà ôm chặt tôi vào lòng bảo, người quê họ nghèo lắm con à, nhưng nợ thì Tết kiểu gì họ cũng trả. Họ cũng như bố mẹ con đi làm xa, có khi cuối tháng hay cuối năm mới trở về và có tiền. Nếu bà không bán nợ thì những người già không có tiền hay vừa hết tiền không có đồ để dùng, tội lắm. Khi nào con cái về quê, họ sẽ mang trả tiền bà.

Cũng có những nhà mà Tết đến, con cái trở về không được dư giả, hoặc làm ăn thất bại, không có tiền họ lại sang gạ bà trả nợ bằng thóc hay gạo. Bà đã bảo cho nợ tiếp, không phải băn khoăn nhưng người ta nhất quyết phải trả cho hết nợ để nhẹ nhõm và đỡ xúi quẩy năm mới.

Thành ra bà phải nhận gạo, nhận thóc. Mỗi nhà một loại gạo, loại thóc khác nhau cũng chẳng sao, bà nhận tất và không kén chọn. Thóc thì bà đi xát, rồi tất cả gạo đó bà để riêng một cái chum to chỉ có bà và tôi biết bí mật này.

Bà dặn ngày Tết, có khách hay khi nào bố mẹ, cậu dì tôi về thì không được đong gạo nấu cơm ở cái chum đó. Bữa nào mọi người đi hết, chỉ có bà cháu mình thì hãy lấy gạo ở chum đó nấu. Bát cơm có thể nhiều vị, nhưng bà bảo ăn vẫn ngon vì cảm nhận đó là tấm lòng của người quê mình.

Lúc đó tôi còn quá bé để nhận biết độ ngon của thứ gạo lẫn lộn nhưng nghe bà nói về tấm lòng người trả nợ, cùng ánh mắt rạng rỡ của bà, tôi ăn ngon lành và không có chút lấn cấn gì.

Những ngày giáp Tết, sạp hàng của bà bán được ít lắm, vì nhà nhà con cái đi làm xa trở về đã mua bao nhiêu đồ ngon, đắt tiền hơn. Nhưng bà cố chẻ lạt để như người bán hàng Tết, chiều cuối năm mới đóng cửa cho cô xóm trên, bà xóm dưới thì thào “đợi con” như một cái cớ chờ người khất nợ đến trả.

Lạt bà chẻ thừa thì ra Giêng bện thành dây thừng, thành chổi quét sân, bán được thì bán không nhà dùng dần, cũng chả vứt đi cái gì bao giờ.

Giờ đây, cầu đã được xây, bến đò xưa không còn, bà cũng không còn nữa. Đô thị hóa đã len lỏi vào từng ngóc ngách làng. Ở bên kia đò năm xưa có gì thì làng bà đã đều có. Nhà cửa mọc lên san sát, xóa đi cái nghèo và vắng lặng của làng.

Giờ người trẻ, trung niên cũng không phải đi làm xa nữa. Những công ty, khu công nghiệp mọc lên còn khiến nhiều thanh niên của làng quê khác về đây thuê trọ và làm việc. Người làng không phải đợi đến Tết mới đông đủ thanh niên, trung niên. Những đứa trẻ con không phải đợi đến Tết mới được ở trọn vẹn trong vòng tay bố mẹ. Bao người già, người mẹ cũng không phải ngóng chờ con cái đi làm xa trở về nữa.

Và tôi cũng không còn nhìn thấy những người như bà ngoại xưa cố kiết bán mấy bó lạt đến tận chiều cuối năm để chờ ai đó trả nợ cuối năm cho đỡ áy náy.

Chỉ còn cái chum gạo năm xưa vẫn ở góc nhà, tôi mở ra, không còn hạt gạo bí mật nào. Ở đó là cả một khoảng trời ký ức từ những Tết năm xưa của bà hiện lên. Tôi vẩn vơ nghĩ, không biết còn làng quê nào giống như quê tôi nữa không? Tôi sẽ kể cho bà nghe về cái Tết ở làng mình bây giờ...

HẠ YÊN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/gia-dinh/nhung-mon-no-bi-mat-cua-ngay-sat-tet-205176.html