Niềm tin và khát vọng cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trải qua 30 năm bôn ba nước ngoài, sống và hoạt động cách mạng tại 28 quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định với niềm tin và khát vọng cháy bỏng: 'Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu'. Đó chính là sự thể hiện rõ ràng nhất tư tưởng, ý chí tự lực, tự cường và một khát vọng lớn, khát vọng giải phóng dân tộc của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Sớm nuôi chí cứu dân, cứu nước
Sinh ra ở vùng quê Nghệ An có truyền thống cách mạng sôi sục, 10 năm lớn lên ở kinh đô Huế, tiếp xúc với nền văn hóa mới, với phong trào Duy Tân đã trang bị cho Nguyễn Tất Thành những hiểu biết mới. Năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được xin cho theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh. Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái của cách mạng Pháp. Điều đó thôi thúc Người sau này tìm đến tận nơi, để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy.

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là những giá trị Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi cho dân tộc và Nhân dân Việt Nam. Tranh cổ động của Nguyễn Thị Lơ
Ngày 5/6/1911, từ bến cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Trải qua những tháng năm lao động kiếm sống, thâm nhập đời sống thực tế của người lao động nhiều nước trên thế giới, Nguyễn Tất Thành thấy rõ cảnh bất công, tàn bạo của xã hội tư bản, xúc động trước đời sống khổ cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước. Người thấy rõ ở đâu người dân mất nước cũng khổ cực như nhau. Sau này Người đã khái quát thành chân lý: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản".
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao vào Đảng, Người trả lời: vì đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: "Tự do, Bình đẳng, Bác ái".
Ngày 18/6/1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Versailles (Pháp). Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của Nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị, dưới bản Yêu sách ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên danh xưng Nguyễn Ái Quốc xuất hiện.

Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta. Ảnh tư liệu
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tới lâu đài Versailles gửi bản Yêu sách cho văn phòng Hội nghị, sau đó gửi đến các đoàn đại biểu các nước Đồng minh dự hội nghị. Nguyễn Ái Quốc còn tự tay viết bản Yêu sách bằng hai thứ tiếng: một bản bằng chữ Quốc ngữ theo thể văn vần, nhan đề Việt Nam yêu cầu ca và một bản chữ Hán nhan đề An Nam nhân dân thỉnh nguyện thư. Người bỏ tiền thuê in 6.000 bản Yêu sách của nhân dân An Nam để phân phát trong các cuộc hội họp, míttinh, phát đi nhiều nơi và bí mật gửi về Việt Nam.
Thực dân Pháp bắt đầu chú ý tới người có tên Nguyễn Ái Quốc. Một tổ mật thám bao gồm cả người Việt lẫn người Pháp được thành lập để chuyên theo dõi Người. Trong một lần đến theo dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ tại Paris, viên mật thám Pháp Paul Arnoux chứng kiến Nguyễn Ái Quốc đang phân phát truyền đơn in bản Yêu sách cho những người có mặt, đã phải thốt lên dự cảm: “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương”.
Quyết tâm hiện thực hóa khát vọng
Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam không được Hội nghị Versailles xem xét, nhưng lại tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam trong nước và nước ngoài. Qua việc bản Yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy, như sau này Người đã viết: "Chủ nghĩa Wilson chỉ là một trò bịp bợm lớn" và "muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình".
Trong suốt những năm tháng này, hòa mình vào dòng chảy cách mạng thế giới, tiếp xúc với những luồng tư tưởng tiến bộ, Người đã dần nâng cao nhận thức về chủ nghĩa thực dân, đế quốc, và tích cực hoạt động cho sự phát triển của cách mạng thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Sau khi đọc “Luận cương” của Lênin, Người tán thành Quốc tế III, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, tháng 12.1920. Ảnh: BTHCM
Đây là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Người và cũng từ đây, tư tưởng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản bắt đầu hình thành. Người xác định: muốn có độc lập, tự do thì các dân tộc bị áp bức không thể ngồi yên chờ đợi, càng không thể trông chờ vào sự “ban ơn” của các thế lực đế quốc, thực dân. Muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thực sự thì vấn đề quyết định trước hết là phải giành cho được độc lập, tự do. “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Người tiến tới thành lập Đảng Cộng sản, lực lượng lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, dần hiện thực hóa khát vọng, mong muốn về một đất nước được giải phóng. Tính từ ngày về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng tháng 2/1941, chỉ trong vòng 5 năm (1941 - 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân đưa con thuyền cách mạng Việt Nam tới bến bờ với mốc son chói lọi là Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Cũng trong 5 năm này, Người đã có ba sáng lập vĩ đại đối với lịch sử Việt Nam là Mặt trận Dân tộc thống nhất (1941), Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, 1944) và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945). Đây là cơ sở bước đầu để thực hiện khát vọng về một đất nước độc lập, tự do.
Lịch sử càng lùi xa, càng thấy tầm vóc vĩ đại của quyết tâm cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người dặn dò đồng chí Võ Nguyên Giáp những ngày tháng 8/1945: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Khát vọng sống trong đất nước giải phóng, hoàn toàn độc lập, tự do còn được Hồ Chí Minh nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân tộc nhiều lần. Đó là ngày 19/12/1946 với lời thề quyết tử: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”; khi trả lời các nhà báo, ngày 2 tháng Giêng năm 1947, Hồ Chí Minh tái khẳng định: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”; và khi giặc Mỹ đem cả triệu quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đem máy bay ném bom hủy diệt miền Bắc, Hồ Chí Minh vẫn dõng dạc tuyên bố: “… Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".
Kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, suy ngẫm về những ước vọng, hoài bão của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cứu nước và giải phóng dân tộc, chúng ta vẫn như thấy Bác đang đồng hành trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng, được tiếp nối trên nền tảng kỷ nguyên Độc lập - Tự do mà Người đã lãnh đạo giành lấy, xây dựng và trao truyền lại.