Ninh Bình đẩy mạnh canh tác lúa giảm phát thải

Rút cạn nước định kỳ, giảm số lần tưới nhưng năng suất lúa thực tế vẫn tăng từ 6% đến 15%, trong khi lượng phát thải khí nhà kính giảm tới hơn 66% so với canh tác ngập nước truyền thống. Kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying-AWD) không chỉ giúp lúa cứng cây, giảm sâu bệnh, giảm chi phí đầu vào và tăng hiệu quả sản xuất cho người nông dân, mà còn đưa Ninh Bình trở thành một trong những điểm sáng ở phía Bắc hiện thực hóa chiến lược giảm phát thải quốc gia, đặt nền móng vững chắc cho nền nông nghiệp xanh, trách nhiệm, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cán bộ HTX Nông nghiệp Nam Thành (xã Nam Đồng) bên cánh đồng áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước.

Cán bộ HTX Nông nghiệp Nam Thành (xã Nam Đồng) bên cánh đồng áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước.

Từ “mô hình canh tác lúa hiệu quả - xanh và bền vững”

Từ bao đời nay, hình ảnh những chân ruộng quanh năm xâm xấp nước đã trở thành nếp nghĩ ăn sâu vào tiềm thức người nông dân. Cây lúa nước dường như mặc định phải luôn gắn liền với bùn lầy và nước ngập. Thế nhưng, chính phương thức thâm canh giữ nước liên tục cùng thói quen lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hoá học đang đặt đồng ruộng trước những hệ lụy nặng nề: tài nguyên nước suy giảm, đất đai thoái hóa, dịch hại bùng phát và chi phí vật tư leo thang. Nguy hại hơn, đất bị ngâm nước thời gian dài làm triệt tiêu lượng oxy hòa tan, thúc đẩy vi sinh vật yếm khí phân hủy chất hữu cơ và sinh ra lượng lớn khí mê-tan (CH4) loại khí nhà kính có tiềm năng gây ấm lên toàn cầu mạnh gấp khoảng 28 lần khí cacbonic (CO2) trong chu kỳ 100 năm.

Là quốc gia sản xuất lúa nước và xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, với quy mô gieo trồng mỗi năm đạt khoảng 7,13 triệu ha và sản lượng trên 43,5 triệu tấn, việc chuyển sang phương thức canh tác giảm phát thải được đánh giá là một trong những giải pháp tiềm năng nhất để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu cắt giảm 30% lượng khí mê-tan vào năm 2030. Đây cũng là nội dung trọng tâm trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, làm cơ sở để Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long và Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”.

Nằm trong vùng trọng điểm lúa của Đồng bằng sông Hồng với hơn 127.000 ha đất canh tác lúa, quy mô gieo trồng hàng năm khoảng 253 nghìn ha, sản lượng trên 1,56 triệu tấn, Ninh Bình xác định không thể đứng ngoài cuộc chuyển đổi này. Ngành nông nghiệp tỉnh đã chủ động bắt nhịp, phối hợp cùng các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức quốc tế đưa quy trình kỹ thuật canh tác mới giảm phát thải vào sản xuất.

Về xã Nam Đồng những ngày này, nhìn những vạt lúa ST25 vàng óng trải dài trên cánh đồng Tổng Quản (thôn Vân Cù) nơi thực hiện mô hình canh tác lúa tiết kiệm nước, giảm phát thải ít ai biết rằng cách đây vài vụ, câu chuyện lại khởi đầu bằng không ít băn khoăn.

Giám đốc HTX Nông nghiệp Nam Thành (xã Nam Đồng) Đỗ Khắc Dũng kể: “Vụ mùa 2024, khi được ngành nông nghiệp cũng như các đơn vị chuyển giao công nghệ thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam hỗ trợ làm thử 70 ha tưới ngập khô xen kẽ, khó nhất là thay đổi thói quen của người dân. Nông dân mình quen cây lúa nước thì ruộng lúc nào cũng phải lênh láng. Đến chu kỳ kỹ thuật, yêu cầu mở cống tháo cạn nước, bà con cũng hoang mang lo lúa chết.

Ống đo cắm sâu vào tầng đất mặt giúp nông dân dễ dàng theo dõi mực nước rút dưới cốt đất để chủ động điều tiết tưới ngập - khô xen kẽ. Ảnh: Chi cục Trồng trọt và BVTV

Ống đo cắm sâu vào tầng đất mặt giúp nông dân dễ dàng theo dõi mực nước rút dưới cốt đất để chủ động điều tiết tưới ngập - khô xen kẽ. Ảnh: Chi cục Trồng trọt và BVTV

Dẫn chúng tôi ra thăm đồng, ông Dũng chỉ tay xuống những ống nhựa đục lỗ cắm sâu ở góc ruộng rồi chia sẻ: “Nhiều người nghĩ phức tạp chứ thực ra rất đơn giản. Quá trình rút nước, mình nhìn vào trong ống thấy nước tụt xuống thấp hơn mặt đất chừng 15 phân hoặc thấy mặt ruộng nứt chân chim thì lại mở cống cho nước vào ngập nông vài phân, rồi lại để cạn tự nhiên. Suốt vụ, có hai đợt chính phải kiên quyết rút kiệt nước để kích bộ rễ ăn sâu đó là giai đoạn đầu đẻ nhánh và giai đoạn sau đẻ nhánh trước khi trỗ; cuối cùng là tháo cạn hẳn trước thu hoạch 10-15 ngày. Thủy lợi sẵn có, cứ bám sát ống đo, khi nào cho nước vào, khi nào rút ra rất đơn giản, quan trọng là không được nóng vội”.

Sự kiên trì ấy đã đem lại quả ngọt. Nhờ luân phiên ngập - khô làm thoáng khí đất, rễ lúa không bị nghẹt mà đâm sâu, cây lúa cứng cáp, đẻ nhánh tập trung và chống đổ ngã vượt trội trước giông lốc. Bà Nguyễn Thị Luyến (thôn Thượng Đồng, xã Nam Đồng), người canh tác tới 100 mẫu ruộng, chia sẻ: “Mới đầu tham gia lo lắm, lúa nước mà rút cạn thì không biết thế nào. Nhưng thấy qua từng vụ lúa đều tốt, rễ chắc khỏe nên giờ tôi hoàn toàn yên tâm. Như vụ này, dẫu gặp mưa lớn đúng đợt trỗ bông nhưng năng suất vẫn cầm chắc 2 tạ một sào. Thích nhất là nhờ rút cạn nước nên lúc gặt chân ruộng ráo quảnh, máy gặt đập liên hợp chạy băng băng, thu hoạch rất thuận lợi”. Từ 70 ha làm thử ban đầu, đến nay toàn bộ 368 ha của HTX Nam Thành đã áp dụng trọn vẹn kỹ thuật này suốt 5 vụ liên tiếp.

Cùng với Nam Đồng, tại Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Nông nghiệp Xanh (xã Nghĩa Sơn), mô hình thực nghiệm 2,2 ha do Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) và Tập đoàn VAG triển khai đã tích hợp kỹ thuật một cách đồng bộ hơn. Kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ tiếp tục là khâu then chốt, kết hợp phương thức cơ giới hóa sạ hàng tạo hiệu ứng hàng biên và vùi phân sâu theo nguyên tắc 4R (đúng loại, đúng liều, đúng lúc, đúng cách).

Nhờ quy trình rút nước phơi chân ruộng, cây lúa trong "mô hình canh tác lúa hiệu quả - xanh và bền vững” ở Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Nông nghiệp Xanh (xã Nghĩa Sơn) cứng cáp, đanh dảnh và chống chịu tốt trước mưa bão, chuẩn bị cho vụ thu hoạch bội thu.

Nhờ quy trình rút nước phơi chân ruộng, cây lúa trong "mô hình canh tác lúa hiệu quả - xanh và bền vững” ở Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Nông nghiệp Xanh (xã Nghĩa Sơn) cứng cáp, đanh dảnh và chống chịu tốt trước mưa bão, chuẩn bị cho vụ thu hoạch bội thu.

Đại diện VAG Group cho biết, việc quản lý nước thông minh kết hợp sạ hàng giúp cây lúa đón nắng gió tối đa, thân cây khỏe nên năng suất giống lúa vượt đối chứng từ 10% đến 15%, chi phí sản xuất giảm khoảng 9,3 triệu đồng mỗi ha, mang lại lợi nhuận ròng tăng thêm trên 5 triệu đồng mỗi ha so với gieo cấy truyền thống. Toàn bộ rơm rạ sau thu hoạch cũng được ủ thành phân vi sinh trả lại độ phì nhiêu cho đất, khép kín chu trình tuần hoàn sinh thái. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của IRRI, kỹ thuật bón vùi sâu giúp hạn chế thất thoát dinh dưỡng do rửa trôi, bay hơi, vừa tiết kiệm chi phí, vừa cắt giảm phát thải khí nhà kính như N2O; đồng thời mật độ hợp lý giúp ruộng thông thoáng, giảm thiểu sâu bệnh hại. Nông dân Nguyễn Ngọc An (thôn Quần Liêu, xã Nghĩa Sơn) tham gia 4 mẫu ruộng mô hình hồ hởi: “Làm lúa kiểu này giảm hẳn công lao động, chân ruộng khô ráo, phân bón vùi sâu không bị trôi đi đâu nên cây lúa đanh dảnh, sạch sâu bệnh và năng suất rất cao”.

Khơi thông rào cản để nhân rộng diện tích

Từ bước khởi đầu hơn 1.000 ha ở vụ Mùa 2024, diện tích canh tác lúa giảm phát thải bằng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước trên đồng đất Ninh Bình đã mở rộng rất nhanh: đạt hơn 4.600 ha ở vụ Xuân 2025; lên hơn 6.600 ha tại 14 xã ở vụ Mùa 2025 và chạm mốc hơn 8.800 ha tại 21 xã vào vụ Xuân 2026, lũy kế 4 vụ đã cắt giảm được gần 93.000 tấn CO2e. Đánh giá thực địa của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh khẳng định phương pháp AWD giúp giảm 1 đến 3 lần tưới mỗi vụ, giảm tới 66,1% lượng phát thải khí nhà kính so với ngập nước liên tục (trung bình giảm gần 5 tấn CO2e mỗi ha một vụ), trong khi năng suất lúa thực tế vẫn tăng từ 6% đến 15%.

Dù hiệu quả đã rõ, nhưng qua thực tế tìm hiểu tại cơ sở, con đường nhân rộng mô hình ra quy mô toàn tỉnh vẫn còn không ít khó khăn. Trao đổi với chúng tôi, ông Lã Quốc Tuấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh chỉ rõ rào cản lớn nhất nằm ở hạ tầng thủy lợi nội đồng chưa đồng bộ và cốt đất canh tác không đều nhau giữa các xứ đồng: “Mô hình rất thuận lợi ở những vùng gieo sạ chủ động trạm bơm tưới tiêu, nhưng ở các chân ruộng trũng thấp hoặc phụ thuộc vào con nước thủy triều, việc điều tiết tháo - nạp nước theo chu kỳ còn rất khó khăn”.

Đặc biệt, câu chuyện “dễ làm nhưng khó giữ” được ông Hoàng Quang Tuyến, Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Phong chia sẻ một cách thẳng thắn. Thực tế giai đoạn 2022 2023, Hồng Phong từng triển khai mô hình tưới tiết kiệm nước cho kết quả rất tốt, nhưng sau đó lại bị đứt gãy, gián đoạn suốt 2 -3 năm. Nguyên nhân trực tiếp là ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún. Kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ cần cả cánh đồng cùng mở - đóng cống theo lịch, nhưng thói quen “mảnh nhà ai người nấy làm” cộng với thu nhập từ cây lúa còn thấp khiến người dân chưa mặn mà bỏ công theo dõi. Nhận diện nguyên nhân thất bại, Hồng Phong đã đưa chủ trương giảm phát thải trong canh tác lúa vào Nghị quyết của xã, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, đồng thời phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường và Học viện Nông nghiệp Việt Nam quyết tâm khôi phục mô hình với quy mô 100 ha ngay trong vụ Xuân 2027 tới, gắn kỹ thuật tưới tiết kiệm nước với liên kết chuỗi giá trị bao tiêu đầu ra.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cùng các đại biểu, chuyên gia quốc tế kiểm tra mô hình lúa giảm phát thải tại Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Nông nghiệp Xanh (xã Nghĩa Sơn).

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cùng các đại biểu, chuyên gia quốc tế kiểm tra mô hình lúa giảm phát thải tại Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Nông nghiệp Xanh (xã Nghĩa Sơn).

Rõ ràng lời giải cho bài toán mở rộng diện tích lúa giảm phát thải ở Ninh Bình đòi hỏi phải nhìn nhận thấu đáo ở nhiều khía cạnh. Trước hết, các địa phương không thể nóng vội chạy theo phong trào mà cần ưu tiên những xứ đồng có trạm bơm chủ động, mặt ruộng bằng phẳng để kỹ thuật rút nước phát huy tối đa hiệu quả. Cùng với việc hướng dẫn bà con bón phân vùi sâu theo nguyên tắc “đúng và đủ”, khâu cơ giới hóa cũng phải được phủ kín từ gieo cấy đến thu hoạch, gắn liền với việc chấm dứt thói quen đốt rơm rạ để ủ phân hữu cơ tuần hoàn trả lại độ phì nhiêu cho đất. Đóng vai trò hạt nhân trong chuỗi mắt xích này, các hợp tác xã phải thực sự đứng ra làm đầu mối quy hoạch vùng sản xuất, thống nhất một giống lúa, chung lịch thời vụ và bắt tay cùng doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, giúp bà con yên tâm gắn bó lâu dài mà không phải đơn độc gánh chịu rủi ro thị trường.

Ông Mark Petry, Tham tán Công sứ Nông nghiệp Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam nhận định, việc tối ưu hóa quản lý nước và dinh dưỡng chính là chìa khóa cải thiện sức khỏe của đất, đồng thời sự tham gia của các doanh nghiệp và viện nghiên cứu quốc tế sẽ giúp mở rộng cánh cửa thương mại nông sản giá trị cao.

Thiết bị buồng đo khí phát thải chuyên dụng được đặt ngay trên chân ruộng để đo đếm chính xác lượng khí nhà kính cắt giảm qua từng mùa vụ. Ảnh: Chi cục Trồng trọt và BVTV

Thiết bị buồng đo khí phát thải chuyên dụng được đặt ngay trên chân ruộng để đo đếm chính xác lượng khí nhà kính cắt giảm qua từng mùa vụ. Ảnh: Chi cục Trồng trọt và BVTV

Từ góc độ cơ quan quản lý địa phương, đồng chí Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh khẳng định: Ngành đang khẩn trương phối hợp cùng các nhà khoa học đúc kết thực tiễn để chuẩn hóa bộ gói kỹ thuật dễ hiểu, dễ làm, sát hợp với từng chất đất và cốt ruộng của địa phương. Ngay trong vụ xuân 2027 tới, Ninh Bình đặt mục tiêu nhân rộng khoảng 15.000 ha lúa canh tác giảm phát thải tại các vùng chủ động nước trên toàn tỉnh.

Thay đổi nếp nghĩ để ruộng lúa được “thở” không chỉ dừng lại ở câu chuyện tiết kiệm nước hay giảm bớt chi phí phân bón, mà còn là bước chuẩn bị căn cơ để nông nghiệp Ninh Bình đón đầu thị trường tín chỉ các-bon, mở ra nguồn lực tài chính mới để tái đầu tư cho hạ tầng nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Nguyễn Lựu

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/ninh-binh-day-manh-canh-tac-lua-giam-phat-thai-261026080547416.html