Ninh Bình phát triển công nghiệp văn hóa từ nguồn lực di sản lễ hội truyền thống
Từ không gian tín ngưỡng cộng đồng, các lễ hội truyền thống ở Ninh Bình đang từng bước được nâng tầm thành sản phẩm của công nghiệp văn hóa với sức lan tỏa mạnh mẽ về du lịch, dịch vụ và kinh tế sáng tạo. Sự chuyển dịch từ tư duy 'tổ chức lễ hội' sang 'quản trị và khai thác giá trị di sản lễ hội' không chỉ mở ra hướng đi mới cho kinh tế di sản, mà còn cho thấy quyết tâm của tỉnh trong hiện thực hóa Nghị quyết số 07-NQ/ TU, ngày 30/1/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo nền tảng xây dựng Ninh Bình trở thành trung tâm sự kiện, trung tâm du lịch di sản của quốc gia và khu vực.

Quang cảnh Lễ hội Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An 2026. Ảnh: Ngọc Linh
“Mỏ vàng mềm” từ lễ hội truyền thống
Trong dòng chảy hàng nghìn năm lịch sử dân tộc, Ninh Bình nổi lên là vùng đất hội tụ dày đặc các lớp trầm tích văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng và cảnh quan. Đây là vùng đất khai mở nền độc lập tự chủ đầu tiên của quốc gia Đại Cồ Việt, nơi phát tích các triều đại Đinh, Tiền Lê, khởi nguồn cho tiến trình xây dựng Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền đầu tiên của dân tộc. Chính chiều sâu lịch sử ấy đã tạo nên một không gian lễ hội đặc biệt.
Theo thống kê của ngành chức năng, toàn tỉnh hiện có hơn 5.000 di tích lịch sử, văn hóa và khoảng 750 lễ hội truyền thống được duy trì, tổ chức hằng năm.
Nhiều lễ hội được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: Lễ hội Cố đô Hoa Lư, Lễ hội Đền Trần, Lễ hội Phủ Dầy, Lễ hội Chùa Keo Hành Thiện, Lễ hội Chùa Đại Bi, Lễ hội Đền Chùa Linh Quang, Lễ hội Đền Thánh Nguyễn, Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, Lễ hội làng Bình Hải, Lễ hội Đền Trần Thương, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, Lễ hội vật võ Liễu Đôi, Lễ hội Đền Lảnh Giang, Lễ hội Chùa Bà Đanh, Lễ hội Chùa Đọi Sơn, Lễ hội Đền Bà Vũ...
Mỗi lễ hội của Ninh Bình không đơn thuần là hoạt động văn hóa dân gian, mà là sự tiếp nối ký ức cộng đồng, kết tinh tinh thần dân tộc và bản sắc văn hóa vùng Đồng bằng Sông Hồng, tất cả tạo thành một hệ sinh thái lễ hội mang chiều sâu lịch sử và giá trị văn hóa đặc sắc hiếm nơi nào có được.
Điều đáng chú ý là, hiện nay các lễ hội của Ninh Bình đang được tiếp cận ở một tầm nhìn rộng hơn, trở thành một cấu phần của công nghiệp văn hóa, tạo ra giá trị kinh tế, sức hút du lịch và khả năng lan tỏa thương hiệu địa phương.
Lễ hội Hoa Lư là ví dụ tiêu biểu cho quá trình ấy. Được tổ chức hằng năm vào tháng Ba âm lịch để tưởng nhớ công lao của Đinh Bộ Lĩnh và các bậc tiền nhân dựng nước, lễ hội không chỉ lưu giữ các nghi thức truyền thống như rước nước, tế lễ tại đền vua Đinh, vua Lê, mà còn bảo tồn nhiều loại hình văn hóa dân gian đặc sắc như đấu vật, múa rồng, kéo chữ, thư pháp, cờ tướng…
Điều làm nên giá trị bền vững của Lễ hội Hoa Lư là khả năng duy trì mạch kết nối giữa lịch sử và đời sống đương đại. Trong không gian lễ hội, lịch sử được tái hiện thành trải nghiệm văn hóa sống động, giúp cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhận diện rõ hơn căn cốt lịch sử và bản sắc dân tộc.
Tương tự, Lễ hội Khai ấn Đền Trần không chỉ mang giá trị tín ngưỡng tâm linh, mà còn hàm chứa chiều sâu giáo dục lịch sử và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Nghi lễ khai ấn, vốn bắt nguồn từ nghi thức triều chính thời Trần, hôm nay vẫn tiếp tục được cộng đồng gìn giữ như biểu tượng của khát vọng quốc thái dân an, của tinh thần tích phúc, trọng đạo lý và đề cao trách nhiệm với quốc gia, dân tộc.
Ở góc độ phát triển, điều quan trọng hơn là các lễ hội truyền thống hiện không còn vận hành như những “điểm sinh hoạt văn hóa đơn lẻ”, mà đang từng bước được tích hợp vào chuỗi giá trị du lịch, dịch vụ, truyền thông, nghệ thuật biểu diễn và kinh tế đêm. Đây chính là dấu hiệu rõ nét của tư duy phát triển công nghiệp văn hóa. Thực tế cho thấy, nhiều lễ hội ở Ninh Bình đã bắt đầu mở rộng từ không gian nghi lễ sang không gian trải nghiệm tổng hợp.
Tại Lễ hội Tràng An năm 2026 với chủ đề “Mạch nguồn linh khí”, di sản thiên nhiên và không gian tín ngưỡng được chuyển hóa thành sân khấu thực cảnh quy mô lớn. Các nghi lễ truyền thống như rước rồng, lấy nước, dâng nước được kết hợp cùng nghệ thuật chèo, cải lương, đàn tính và các chương trình biểu diễn lấy cảm hứng từ lịch sử Tràng An.
Hay tại Lễ hội Đàn Kính Thiên ở Thung Ui, trên nền không gian khảo cổ ghi dấu cư trú của con người từ khoảng 13.000 năm trước, chương trình nghệ thuật thực cảnh tái hiện hành trình dựng nước thời Đại Cồ Việt bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, với sự tham gia của hàng nghìn diễn viên, nghệ sĩ và quần chúng. Trong cấu trúc lễ hội đó, cảnh quan thiên nhiên không đóng vai “nền” mà trở thành một phần của nghệ thuật trình diễn và trải nghiệm văn hóa. Chính sự hòa quyện giữa di sản, nghệ thuật và công nghệ tổ chức hiện đại đã tạo nên sức hút mới cho lễ hội truyền thống trong đời sống đương đại.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Việt Nam cho rằng, thành công của Ninh Bình nằm ở việc xây dựng được mô hình hợp tác công - tư hiệu quả trong quản lý, khai thác Di sản Tràng An; đồng thời trao quyền cho cộng đồng tổ chức lễ hội bài bản, chuyên nghiệp, qua đó vừa bảo tồn vừa lan tỏa giá trị di sản. Nhìn rộng hơn, sự chuyển dịch này cho thấy Ninh Bình đang từng bước hình thành tư duy “kinh tế di sản”.
Nâng tầm lễ hội thành sản phẩm công nghiệp sáng tạo hiện đại
Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/1/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch di sản, sinh thái, văn hóa và tôn giáo của Việt Nam, đồng thời là trung tâm tổ chức các sự kiện tầm cỡ quốc gia và quốc tế; phát triển các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, tổ chức sự kiện, sân khấu thực cảnh, du lịch sáng tạo và trở thành “điểm đến phim trường quốc gia”.
Từ góc độ này có thể thấy, mục tiêu Ninh Bình hướng tới không phải là “làm lớn lễ hội”, mà là nâng tầm lễ hội thành sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh trong không gian công nghiệp sáng tạo hiện đại.
Đồng chí Nguyễn Cao Tấn, Phó Giám đốc Sở Du lịch cho rằng: Trong bối cảnh phát triển mới, Ninh Bình không tiếp cận lễ hội theo tư duy bảo tồn tĩnh hay tổ chức sự kiện đơn lẻ, mà đang từng bước đặt lễ hội trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản. Đó là một bước chuyển lớn về tư duy phát triển. Bởi trong nhiều năm, lễ hội thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ sinh hoạt văn hóa cộng đồng, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Giá trị kinh tế của lễ hội nếu có phần lớn chỉ dừng ở các dịch vụ phụ trợ tự phát.
Trong khi ở nhiều quốc gia trên thế giới, lễ hội từ lâu đã trở thành “tài nguyên mềm” của công nghiệp sáng tạo, tạo sức hút cho du lịch, truyền thông, nghệ thuật trình diễn, thương mại văn hóa và quảng bá thương hiệu quốc gia. Ninh Bình đang đi theo hướng tiếp cận ấy. Dù đã đạt nhiều kết quả tích cực, nhưng nhìn từ yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa hiện đại, việc khai thác giá trị lễ hội truyền thống ở Ninh Bình vẫn còn không ít vấn đề đặt ra.
Một trong những thách thức lớn nhất là làm sao cân bằng giữa bảo tồn và khai thác. Nếu thiên về thương mại hóa, lễ hội rất dễ bị sân khấu hóa cực đoan, mất đi chiều sâu văn hóa và vai trò chủ thể của cộng đồng. Nhưng nếu chỉ dừng ở bảo tồn nguyên trạng, lễ hội sẽ khó tạo được sức hút trong đời sống đương đại và khó phát huy giá trị kinh tế.
Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không phải tổ chức lễ hội “hoành tráng hơn”, mà là nâng cao năng lực quản trị lễ hội theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại nhưng vẫn giữ được hồn cốt văn hóa truyền thống. Muốn vậy, trước hết phải tiếp tục giữ vai trò trung tâm của cộng đồng trong sáng tạo và gìn giữ lễ hội.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam: Điều quyết định sức sống của lễ hội vẫn là câu chuyện lịch sử, bản sắc cộng đồng và giá trị tinh thần được truyền tải phía sau mỗi nghi lễ, mỗi không gian di sản. Một yêu cầu đặt ra là phải hình thành đội ngũ nhân lực công nghiệp văn hóa chuyên nghiệp. Từ quản lý lễ hội, tổ chức sự kiện, nghệ thuật trình diễn đến truyền thông, sáng tạo nội dung số đều cần được đào tạo theo hướng hiện đại và có năng lực đổi mới sáng tạo. Quan trọng hơn cả là phải xây dựng được hệ sinh thái liên kết giữa di sản - lễ hội - du lịch - dịch vụ - sáng tạo - công nghệ. Đó mới là nền tảng để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như mục tiêu tỉnh đặt ra.
Khát vọng đưa Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 không chỉ là mục tiêu phát triển đô thị hay tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Sâu xa hơn, đó là khát vọng xây dựng một đô thị di sản thiên niên kỷ có bản sắc riêng, có sức mạnh nội sinh từ chính hệ sinh thái di sản để phát triển bền vững. Trong hành trình ấy, các lễ hội truyền thống đang cho thấy một giá trị đặc biệt. Đó là hướng đi khác biệt của Ninh Bình trong phát triển công nghiệp văn hóa, từng bước biến “di sản ngàn năm” thành nguồn lực phát triển cho tương lai.






![[VIDEO] Paris, Seoul, Singapore: Đập đi xây lại để thịnh vượng](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_05_25_180_55234635/f93807652e2ec7709e3f.jpg)




