Nợ xấu vẫn chưa phản ánh hết rủi ro của ngành ngân hàng

Bộ đệm dự phòng suy yếu, cam kết tín dụng ngoài bảng cân đối và lãi phải thu đặt ra những thách thức mới với khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam duy trì quanh 1,9% trong nửa đầu năm 2026 trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống chỉ còn khoảng 80%.

Cùng với tín dụng ngoại bảng tăng nhanh và lãi phải thu gia tăng tại một số ngân hàng, những chỉ báo này cho thấy rủi ro tín dụng có thể lớn hơn những gì thể hiện trên bảng cân đối kế toán.

Bộ đệm dự phòng suy giảm

Theo đánh giá của FiinRatings đối với 30 ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ toàn ngành nhìn chung ổn định ở mức 1,9%.

Tuy nhiên, tỷ lệ nợ cần chú ý đã tăng lên 1,3% trong khi tài sản có vấn đề khác ngoài cho vay đảo chiều tăng trở lại sau nhiều năm giảm, lên gần 0,5%.

Việc đánh giá chất lượng tài sản không thể chỉ dựa vào tỷ lệ nợ xấu tại một thời điểm. Nợ cần chú ý phản ánh những khoản vay đã xuất hiện dấu hiệu rủi ro nhưng chưa được phân loại thành nợ xấu.

Trong khi đó, nhóm tài sản có vấn đề ngoài các khoản cho vay cũng tăng lên cho thấy rủi ro có thể xuất hiện ở những khoản mục khác trên bảng cân đối kế toán, bên cạnh dư nợ tín dụng.

Ở chiều ngược lại, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) đã giảm xuống khoảng 80%, mức thấp nhất trong nhiều năm. FiinRatings cho rằng sự suy giảm của tỷ lệ bao phủ diễn ra trong bối cảnh các ngân hàng đẩy mạnh xóa sổ nợ xấu khiến lượng dự phòng bị bào mòn nhanh hơn tốc độ bổ sung mới.

Tài sản có vấn đề trên tổng dư nợ và tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Ảnh: FiinRatings

Tài sản có vấn đề trên tổng dư nợ và tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Ảnh: FiinRatings

Khi nhiều khoản nợ được xử lý bằng dự phòng, bộ đệm này có thể suy giảm nếu ngân hàng không trích lập bổ sung tương ứng.  

Mức độ suy giảm cũng có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng. Nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu tương đối cao, khoảng 128% dù đã giảm từ mức 140% năm 2025.

Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ của nhóm bốn ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu giảm xuống 79,3%, chủ yếu do mức bao phủ tại VPBank chỉ đạt 56%, trong khi Techcombank và ACB vẫn lần lượt duy trì mức 126% và 105%.

Áp lực lớn hơn nằm ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần khác với tỷ lệ bao phủ chỉ khoảng 57%. Tốc độ hình thành nợ xấu của nhóm này tăng 34% so với cùng kỳ.

Dù mức tăng dự phòng danh nghĩa về cơ bản theo kịp tốc độ hình thành nợ xấu, bộ đệm hiện tại vẫn tương đối mỏng. Nếu chất lượng tài sản tiếp tục suy giảm, nhóm ngân hàng này có ít dư địa hơn để hấp thụ chi phí tín dụng đang trong xu hướng gia tăng.

Rủi ro không chỉ nằm trong các khoản vay đã giải ngân

Một phần rủi ro tín dụng của ngân hàng nằm ngoài dư nợ cho vay thông thường. Theo FiinRatings, tổng tín dụng ngoại bảng quy đổi tăng 24,3% so với cùng kỳ, đạt 3.243 nghìn tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, cao hơn mức tăng 18% của tín dụng nội bảng.

Tỷ lệ tín dụng ngoại bảng quy đổi trên vốn chủ sở hữu tăng lên 1,6 lần, từ mức 1,3 lần trong nửa cuối năm 2024.

Các cam kết bảo lãnh và thư tín dụng (L/C) là những cấu phần đáng chú ý. Giá trị bảo lãnh vay vốn đạt 114 nghìn tỷ đồng, trong khi cam kết L/C tăng 71% so với mức đáy của nửa đầu năm 2024, lên 631 nghìn tỷ đồng.

Diễn biến này phản ánh sự phục hồi của nhu cầu tài trợ thương mại và sự mở rộng của các cam kết tín dụng liên quan đến hoạt động kinh doanh, đầu tư.

Tín dụng ngoại bảng tiềm ẩn rủi ro tín dụng do các cam kết có thể chuyển thành nghĩa vụ thanh toán thực tế khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ. Khi đó, ngân hàng phải thực hiện cam kết thay khách hàng, đồng thời đối mặt với nguy cơ phát sinh tổn thất và nhu cầu thanh khoản.

Đáng chú ý, mức độ tập trung tín dụng ngoại bảng đang giảm tại nhóm năm ngân hàng lớn nhất ở nhiều hạng mục, đồng nghĩa với việc rủi ro được phân bổ rộng hơn trong hệ thống.

Sự tham gia của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần giúp giảm sự phụ thuộc vào một số tổ chức lớn, nhưng đồng thời cũng khiến các ngân hàng quy mô trung bình cũng phải quản lý những nghĩa vụ tín dụng tiềm ẩn.

Rủi ro này cần được nhìn nhận trong bối cảnh tín dụng bất động sản tiếp tục tăng nhanh. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ bất động sản đạt 5,25 triệu tỷ đồng, tương đương 26,3% tổng tín dụng toàn hệ thống.

Trong đó, cho vay kinh doanh bất động sản đạt 2,52 triệu tỷ đồng, tăng 41% so với cùng kỳ, nhanh hơn mức tăng 20% của cho vay bất động sản tiêu dùng.

Sự chênh lệch cho thấy dòng vốn đang mở rộng nhanh hơn ở phía chủ đầu tư so với phía người mua nhà. Trong khi nguồn cung dự án phục hồi, lượng hàng tồn kho chưa bán tăng và tỷ lệ hấp thụ tại Hà Nội giảm xuống khoảng 67% nguồn cung mới, so với mức 80–90% trong giai đoạn 2024–2025.

Theo FiinRatings, tỷ lệ nợ xấu bất động sản được ghi nhận ở mức khoảng 2,3–2,4%. Khi dư nợ tăng nhanh, tỷ lệ nợ xấu có thể tương đối ổn định dù quy mô tuyệt đối các khoản nợ có vấn đề vẫn gia tăng. Khả năng trả nợ của chủ đầu tư vì thế tiếp tục phụ thuộc vào tiến độ dự án, dòng tiền bán hàng và khả năng tái tài trợ.

Lãi phải thu và khả năng chống chịu trong nửa cuối năm

Một chỉ báo khác được FiinRatings lưu ý là số ngày lãi và phí phải thu. Trung vị toàn ngành giảm từ khoảng 45 ngày năm 2025 xuống 42 ngày trong quý II/2026, cho thấy hiệu quả thu hồi tổng thể tương đối ổn định.

Tuy nhiên, một số ngân hàng thương mại cổ phần quy mô trung bình ghi nhận số ngày phải thu tăng đáng kể, đi ngược xu hướng chung.

Diễn biến này có thể xuất phát từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, ngân hàng tiếp tục ghi nhận lãi từ các khoản vay có dấu hiệu chậm trả nhưng chưa bị phân loại là nợ xấu. Bên cạnh đó, tỷ trọng cho vay các dự án và công trình hạ tầng có kỳ hạn dài tăng lên khiến dòng tiền trả nợ và thu lãi phân bổ không đồng đều giữa các kỳ.

FiinRatings dự báo tỷ lệ bao phủ nợ xấu có thể tiếp tục suy giảm. Ảnh: Hoàng Anh

FiinRatings dự báo tỷ lệ bao phủ nợ xấu có thể tiếp tục suy giảm. Ảnh: Hoàng Anh

Theo FiinRatings, khoảng cách giữa lãi phải thu và lãi thực thu có thể là chỉ báo cảnh báo sớm về sự suy giảm chất lượng tín dụng.

Đối với những ngân hàng có số ngày lãi và phí phải thu vượt 90 ngày, lợi nhuận được báo cáo có thể chưa phản ánh đầy đủ khả năng tạo tiền mặt thực tế. Điều này cũng đặt ra yêu cầu xem xét đồng thời thu nhập lãi, chất lượng khoản vay và nhu cầu trích lập dự phòng, thay vì chỉ dựa vào lợi nhuận kế toán.

Trong nửa cuối năm 2026, FiinRatings dự báo tỷ lệ bao phủ nợ xấu có thể tiếp tục suy giảm khi hoạt động xóa sổ trở về mức bình thường, trong khi tín dụng vẫn tăng trưởng mạnh.

Cơ chế loại trừ tín dụng dành cho các dự án quy mô lớn khỏi hạn mức tăng trưởng có thể khiến mức tăng tín dụng được báo cáo ở mức vừa phải nhưng dư nợ thực tế và rủi ro mà ngân hàng tài trợ phải gánh chịu vẫn có thể tiếp tục mở rộng.

Chất lượng tài sản vì thế sẽ phụ thuộc không chỉ vào diễn biến nợ xấu mà còn vào khả năng tạo lợi nhuận trước dự phòng, mức độ bao phủ nợ, chất lượng nguồn vốn và hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm.

Trong bối cảnh bộ đệm dự phòng suy giảm và rủi ro tín dụng phân hóa giữa các nhóm ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu ổn định chưa đủ để khẳng định sức chống chịu của hệ thống được duy trì.

Nam Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/no-xau-van-chua-phan-anh-het-rui-ro-cua-nganh-ngan-hang-d48143.html