Nới trần vốn ngắn hạn cho vay dài hạn: Thêm nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế
Theo các chuyên gia, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn sẽ hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Điểm đáng chú ý nhất là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% hiện tại lên 40% từ ngày 1/7/2026.
Cơ hội 'bơm' thêm tiền cho nền kinh tế
Theo đánh giá của các chuyên gia, động thái này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.

Nguồn vốn cho vay trung và dài hạn sẽ nhiều lên, hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế và các doanh nghiệp. (Ảnh minh họa)
TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, cho rằng, với quy định mới, nguồn vốn cho vay trung và dài hạn sẽ nhiều lên, hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế và các doanh nghiệp. Đồng thời giúp ngân hàng mở rộng "room" tín dụng cho vay trung và dài hạn, tránh được việc không tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước về vốn cho vay. Từ đó, các ngân hàng cũng sẽ tăng được lợi nhuận vì cho vay trung và dài hạn thường có mức lãi suất cao.
Ông Hiếu cũng cho rằng, quy định mới sẽ giúp giảm áp lực huy động vốn trung và dài hạn, vốn có chi phí cao hơn đáng kể so với nguồn vốn ngắn hạn. Trong nhiều năm qua, để đáp ứng các quy định về tỷ lệ an toàn, nhiều ngân hàng buộc phải tăng cường phát hành chứng chỉ tiền gửi hoặc cạnh tranh lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài, kéo theo chi phí vốn gia tăng và gây áp lực lên biên lãi ròng.
Với quy định mới, áp lực được kỳ vọng sẽ giảm bớt. Các ngân hàng có thể sử dụng linh hoạt hơn nguồn vốn ngắn hạn với chi phí thấp để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn, qua đó góp phần cải thiện hiệu quả sử dụng vốn và hạn chế nguy cơ hình thành một cuộc đua lãi suất huy động mới.
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cũng cho rằng quy định mới của NHNN sẽ tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp, ngành nghề có được nguồn vốn tín dụng lớn hơn. Theo ông, thay đổi này sẽ giải quyết được khoảng 9 - 10% về vốn cho thị trường hiện nay.
Khi áp lực huy động vốn giảm bớt, mặt bằng lãi suất đầu vào có cơ hội ổn định, các ngân hàng sẽ có cơ sở xem xét giảm chi phí cho vay đối với doanh nghiệp và người dân.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những lĩnh vực cần nguồn vốn trung và dài hạn như bất động sản, xây dựng, hạ tầng giao thông, logistics hay sản xuất công nghiệp. Việc tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn có thể thúc đẩy hoạt động đầu tư, mở rộng sản xuất và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Ở góc độ ngân hàng, những tổ chức tín dụng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cao, cơ cấu tín dụng tập trung vào các khoản vay dài hạn và nguồn vốn huy động chi phí thấp sẽ là nhóm hưởng lợi nhiều hơn từ thay đổi chính sách lần này. Việc mở rộng dư địa thanh khoản cũng góp phần cải thiện hiệu quả sử dụng vốn và hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận trong thời gian tới.
"Khi được phép sử dụng tỷ trọng lớn hơn nguồn vốn huy động ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn, các ngân hàng sẽ có thêm dư địa trong việc phân bổ nguồn vốn. Điều này giúp hệ thống ngân hàng linh hoạt hơn trong hoạt động tín dụng, đồng thời tạo điều kiện mở rộng dòng vốn cho các dự án có nhu cầu vốn trung và dài hạn", ông Thịnh nhấn mạnh.
Giảm áp lực lãi suất
Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), việc nới lỏng một số tỷ lệ an toàn sẽ giúp giảm áp lực huy động vốn, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định hơn trong thời gian tới. Dù tác động không mang tính đột biến nhưng các thay đổi này được kỳ vọng sẽ giúp giảm bớt áp lực lên mặt bằng lãi suất VND vốn đang duy trì ở mức cao trong thời gian qua.
Thực tế, phần lớn ngân hàng niêm yết hiện vẫn đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Ngay cả trong giai đoạn thanh khoản khó khăn, nhiều ngân hàng vẫn có thể duy trì các tỷ lệ an toàn thông qua việc vay mượn trên thị trường liên ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, những giải pháp này thường đi kèm chi phí vốn cao hơn.
Khi yêu cầu huy động vốn dài hạn không còn quá khắt khe như trước, các nhà băng sẽ có thêm dư địa điều chỉnh lãi suất huy động, đặc biệt ở các kỳ hạn dài. Đây là yếu tố có thể hỗ trợ quá trình giảm chi phí vốn và cải thiện biên lợi nhuận trong bối cảnh cạnh tranh huy động ngày càng gia tăng.

Theo các chuyên gia, cần cơ chế kiểm soát để hạn chế rủi ro.
Không chỉ dừng lại ở phía nguồn vốn, những thay đổi trong Thông tư 25 còn giúp các ngân hàng có thêm động lực để giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn, nhất là đối với các lĩnh vực cần nguồn vốn lớn và thời gian thu hồi dài như bất động sản, xây dựng hạ tầng, vận tải, đầu tư công hay các dự án sản xuất quy mô lớn.
Điều này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ cho mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới, khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp vẫn ở mức cao. Đồng thời, việc giảm chi phí vay vốn cũng có thể tạo thêm động lực cho các dự án đầu tư mới, góp phần kích thích tổng cầu của nền kinh tế.
Tuy Thông tư 25 được xem là tín hiệu ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng các chuyên gia cũng khuyến cáo nên có cơ chế kiểm soát rủi ro để đảm bảo "sức khỏe" cho hệ thống tài chính.
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, 70-80% là dòng tiền ngắn hạn, nên nếu dùng quá nhiều sẽ đưa ngân hàng vào rủi ro thanh khoản. Vì thế các ngân hàng phải báo cáo thường xuyên với Ngân hàng Nhà nước về những khoản nợ mới được chấp thuận như: Cho công ty nào vay, thời hạn bao lâu, giá trị vay bao nhiều...để Ngân hàng Nhà nước có cơ sở kiểm soát, tránh làm gia tăng nợ xấu quá nhiều.
Bên cạnh đó, với giai đoạn tăng trưởng 10% trở lên như hiện nay thì việc hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết, nhưng cũng chỉ nên áp dụng trong vòng 2 năm tới. Coi thời gian này như một giai đoạn thử nghiệm xem có tăng rủi ro quá nhiều không, từ đó cân nhắc xem xét rút về mức 30% như hiện tại.













