Nông sản OCOP Phú Thọ tìm đường ra thị trường thế giới
Từ những sản vật đặc trưng vùng trung du, nhiều sản phẩm OCOP Phú Thọ đang được chuẩn hoá chất lượng, truy xuất nguồn gốc và từng bước tham gia chuỗi xuất khẩu. Từ mỳ gạo Hùng Lô, chè đinh Hoài Trung đến mật ong Tam Đảo, các sản phẩm đang hướng tới chinh phục thị trường thế giới từ việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất.
Từ sản vật làng nghề đến sản phẩm đạt chuẩn quốc gia
Ở xã Hùng Lô (cũ), nay là phường Vân Phú, nghề làm mỳ gạo đã có từ lâu. Nhưng để một sản phẩm làng nghề bước ra khỏi thị trường truyền thống, câu chuyện không chỉ là giữ vững hương vị. HTX Mỳ gạo Hùng Lô đã đổi mới quy trình sản xuất, nâng công suất, cải thiện bao bì, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc. Từ 3 sản phẩm đạt OCOP 4 sao, sản phẩm “Mỳ gạo sạch sinh ra từ làng Hùng Lô” đã được công nhận OCOP 5 sao năm 2025. Một số sản phẩm của HTX cũng đã phục vụ thị trường xuất khẩu, trong đó có Đài Loan, Nhật Bản. Đây là thay đổi đáng chú ý của một làng nghề. Giá trị của sợi mỳ không còn chỉ nằm ở công thức truyền thống mà được tạo thêm từ quy trình sản xuất, tiêu chuẩn an toàn, bao bì và khả năng kiểm soát chất lượng.
Tính đến tháng 6/2026, toàn tỉnh có 592 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên còn hiệu lực của 356 chủ thể sản xuất, kinh doanh. Trong đó, có 496 sản phẩm 3 sao, 87 sản phẩm 4 sao và 9 sản phẩm 5 sao. Trong số những sản phẩm 5 sao, Chè Đinh cao cấp của Công ty TNHH Chè Hoài Trung là sản phẩm đầu tiên của Phú Thọ được công nhận cấp quốc gia.
Công ty TNHH Chè Hoài Trung đã xây dựng vùng nguyên liệu, cải tiến kỹ thuật trồng, thu hái và chế biến, qua đó đưa sản phẩm chè đặc sản của vùng Thanh Ba lên phân khúc cao cấp hơn. Không chỉ bán nguyên liệu, mục tiêu của doanh nghiệp là nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến, có thương hiệu và giá trị gia tăng cao. Mỗi năm, Công ty xuất khẩu khoảng 1.000 tấn chè đen tới các thị trường Trung Đông, Trung Quốc; đồng thời cung cấp chè xanh cao cấp, chè túi lọc, chè sen, chè nhài cho khách hàng trong và ngoài nước. Trung Đông hiện là thị trường xuất khẩu trọng điểm; doanh nghiệp cũng đang hướng đến thị trường châu Âu và Mỹ.

Dây chuyền sản xuất mật ong tại Công ty Cổ phần Ong Tam Đảo (HONECO).
Ở khu vực Tam Đảo, Công ty Cổ phần Ong Tam Đảo (HONECO) cũng đang đi theo hướng tương tự. Doanh nghiệp hiện có nhiều sản phẩm OCOP. Năm 2026, bốn sản phẩm của Công ty được công nhận OCOP 5 sao. Các sản phẩm của HONECO đã được xuất khẩu tới Mỹ, Đức, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số thị trường khác.
Bà Lê Thị Nga - Tổng Giám đốc HONECO cho biết, doanh nghiệp xác định chất lượng, công nghệ và minh bạch nguồn gốc là nền tảng để nâng sức cạnh tranh. Từ đầu năm đến nay, Công ty cung ứng ra thị trường hơn 467 nghìn sản phẩm với sản lượng gần 330 tấn mật ong thành phẩm, chiếm trên 10% thị phần bán lẻ mật ong của cả nước, trong đó xuất khẩu gần 30 tấn. Công ty đã và đang xúc tiến làm việc với thị trường của Mỹ và một số nước châu Âu.
Những con số này cho thấy OCOP đang dần chuyển từ câu chuyện “có sản phẩm đặc trưng” sang “sản phẩm có khả năng tham gia thị trường”. Đây cũng là yêu cầu cao hơn đối với các chủ thể OCOP khi thị trường ngày càng coi trọng tiêu chuẩn, tính minh bạch và khả năng cung ứng ổn định.
Không chỉ cần “tấm vé” OCOP
Một sản phẩm được xếp hạng OCOP cấp tỉnh hay quốc gia là sự ghi nhận về chất lượng và giá trị sản phẩm, nhưng không đồng nghĩa với việc có thể ngay lập tức bước vào thị trường quốc tế. Các thị trường nhập khẩu đặt ra những yêu cầu khắt khe về vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, an toàn vi sinh, dư lượng hóa chất, truy xuất nguồn gốc và điều kiện bảo quản.
Đến tháng 6/2026, Phú Thọ đã thiết lập và cấp 786 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 8.800 ha, trong đó có 109 mã số phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, EU, Hàn Quốc... với diện tích trên 1.197ha (trên các cây bưởi, nhãn, thanh long, chuối, mía), cùng 4 mã số cơ sở đóng gói quả tươi đủ điều kiện xuất khẩu. Đây là một trong những nền tảng quan trọng để nông sản địa phương tiếp cận các thị trường có yêu cầu kỹ thuật cao.
Đáng chú ý, việc cấp mã số vùng trồng đang chuyển từ mở rộng số lượng sang quản lý chặt chất lượng. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, trong 6 tháng đầu năm 2026, cơ quan chuyên môn đã rà soát, kiểm tra các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời thực hiện thu hồi những mã không đáp ứng yêu cầu duy trì và chuẩn hóa dữ liệu.
6 tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp Phú Thọ đã xuất khẩu trên 32.600 tấn các nhóm nông sản, thực phẩm chế biến sang các thị trường châu Á, châu Âu và Mỹ. Nông sản Phú Thọ đang từng bước mở rộng thị trường, chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến, cấp đông và có khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nhiều thị trường khó tính.
Khi quy mô đơn hàng tăng, chất lượng nguyên liệu không đồng đều giữa các hộ liên kết trở thành điểm nghẽn lớn với các doanh nghiệp. Để bảo đảm hợp đồng, doanh nghiệp buộc phải “đầu tư ngược” từ ứng vốn, vật tư đến hướng dẫn nông dân sản xuất theo chuẩn GlobalGAP, hữu cơ. Việc tích tụ, chuẩn hóa vùng trồng và số hóa nhật ký sản xuất không chỉ giúp giảm chi phí gom hàng, kiểm định mà còn là cơ sở để doanh nghiệp kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và ký kết các hợp đồng xuất khẩu dài hạn.

Dây chuyền đóng gói và cấp đông sản phẩm xoài xuất khẩu tại Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Tiến Ngân (phường Hoà Bình).
Ngoài ra, với nông sản tươi và đông lạnh, chất lượng và sức cạnh tranh phụ thuộc lớn vào khâu sơ chế, đóng gói, bảo quản và chi phí logistics. Để khắc phục hạn chế này, Phú Thọ đang tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư hạ tầng kho lạnh, cơ sở sơ chế, đóng gói và vận chuyển chuyên dụng, nhất là tại các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Định hướng này phù hợp với chủ trương của tỉnh về phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng đang triển khai các mô hình làng nông nghiệp tuần hoàn, làng nông nghiệp ứng dụng chuyển đổi số; đồng thời xây dựng các vùng sản xuất tập trung đối với những cây trồng chủ lực như bưởi, cam, chè, mía.
Một yêu cầu khác là phải thay đổi cách tiếp cận thị trường. Không thể chỉ chờ doanh nghiệp tìm đến mua hàng. Chủ thể OCOP cần biết thị trường cần gì, tiêu chuẩn nào được chấp nhận, quy mô đơn hàng ra sao và sản phẩm phải được định vị ở phân khúc nào. Điều này cho thấy, muốn đưa nông sản OCOP Phú Thọ ra thị trường thế giới không thể chỉ trông vào một sản phẩm hay một tấm chứng nhận. Đó phải là câu chuyện của cả chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng đến bao bì, truy xuất nguồn gốc; từ chế biến, bảo quản đến logistics, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường.
