Nông Thị Trưng - Hành trình cách mạng khẳng định sự tiến bộ của phụ nữ Cao Bằng
Cao Bằng tự hào là quê hương 'cội nguồn cách mạng', nơi sinh ra nhiều anh hùng, tướng lĩnh, cán bộ cách mạng tiền bối ưu tú của Đảng và cách mạng Việt Nam. Một trong những nữ cán bộ nổi bật trong phong trào cách mạng của quê hương Cao Bằng là đồng chí Nông Thị Trưng. Hành trình và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí từ những năm 30 của thế kỷ XX cho đến cuối cuộc đời đã có nhiều đóng góp, cống hiến cho công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và quê hương; đồng thời cũng khẳng định sự tiến bộ của phụ nữ Cao Bằng trong 'cuộc cách mạng' giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới, xứng đáng là một trong những bông hoa đẹp của vườn hoa cách mạng Việt Nam.
Người thiếu nữ sớm thoát ly làm cách mạng
Nông Thị Trưng, tên thật là Nông Thị Bày, sinh năm 1920 tại Cao Sơn, Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình (nay là xã Tĩnh Túc) và lớn lên tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng (nay là xã Trường Hà) trong một gia đình nông dân, đông con, nghèo khó. Là lớp thanh niên lớn lên và chứng kiến cảnh quê hương lầm than, cơ cực dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, Nông Thị Bày sớm cảm nhận được nỗi thống khổ, tủi nhục của người dân mất nước.
Cũng như những cô gái khác trong bản, ở tuổi mới lớn, Nông Thị Bày đã giúp mẹ được mọi việc. Trong và ngoài bản đã có nhiều người đánh tiếng dạm hỏi cô về làm vợ nhưng cô kiên quyết từ chối. Qua những lần gặp chị Án Sinh - một nữ cán bộ cách mạng ở Lam Sơn, xã Hồng Việt, huyện Hòa An (nay là xã Hòa An) và được nghe chị nói chuyện, Nông Thị Bày như được mở mang tầm nhìn về thời cuộc, về nỗi nhục của người dân mất nước, sự bất công trong tư tưởng “trọng nam khinh nữ”… và cô được giác ngộ rằng, phụ nữ hoàn toàn có thể làm cách mạng, tham gia đấu tranh giành lại độc lập, giải phóng phụ nữ, vươn lên giành quyền tự do, bình đẳng với nam giới. Trong tư tưởng, lề thói cũ của xã hội bấy giờ, người phụ nữ phải lo việc nội trợ, chăm sóc chồng con, không có độc lập, tự chủ, không được tham gia vào các hoạt động xã hội hay chính trị…
Năm 1936, Nông Thị Bày được kết nạp vào hội “Thanh niên phản đế”. Với sự nhanh nhẹn, nhiệt tình, cô được giao nhiệm vụ làm liên lạc đưa các tài liệu bí mật cho các đồng chí cán bộ hoạt động bí mật tại châu Hà Quảng. Quá trình hoạt động cách mạng đã nảy nở tình yêu giữa cô với đồng chí Hoàng Văn Thạch (bí danh Hồng Tiến) - một cán bộ cách mạng cùng quê, cùng chí hướng và cả hai tiến tới lập gia đình, càng gắn bó với nhau trên con đường cách mạng. Tháng 6/1940, đồng chí Hoàng Văn Thạch bị thực dân Pháp bắt và cầm tù. Bản thân Nông Thị Bày cũng bị mật thám theo dõi, rình rập, nhưng cô vẫn kiên gan hoạt động, làm tổ trưởng phụ nữ và liên lạc đưa thư, cơm nước cho cán bộ hoạt động bí mật.
Tháng 7/1941, Nông Thị Bày cũng bị mật thám tay sai bắt và giam giữ. Sau khi chạy thoát, cô được các đồng chí: Thế An, Quốc Vân (Hoàng Văn Chài, Hoàng Tô - anh trai đồng chí Hoàng Văn Thạch) giúp đỡ và cùng vượt biên giới từ Hà Quảng sang Bình Mãng, Quảng Tây (Trung Quốc) trú ẩn khoảng 10 ngày rồi lại quay về làng Pác Bó, châu Hà Quảng. Tại đây, cô đã được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Những ngày tháng được sống và hoạt động cách mạng bên Bác Hồ, Nông Thị Bày vinh dự và may mắn được Người trực tiếp giáo dục, bồi dưỡng, huấn luyện và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của Cao Bằng trong thời kỳ 1941 - 1945.
Ở Pác Bó, cô được bố trí ở nhà đồng chí Dương Đại Lâm - một gia đình cơ sở của cách mạng cách lán Khuổi Nặm không xa. Bác Hồ đã đặt cho cô một tên mới là Trưng và được Người nhận làm cháu gái. Hằng ngày cùng với một số đồng chí khác, Nông Thị Trưng được Bác Hồ trực tiếp dạy bảo về cách viết, cách đọc; về các kiến thức chính trị, xã hội, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về đoàn thể Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương… Đặc biệt, Người giảng rất kỹ về vấn đề giải phóng phụ nữ, bởi lực lượng phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nếu không giải phóng phụ nữ khỏi sự khinh rẻ của xã hội, trọng nam khinh nữ và chịu sự ràng buộc của nam giới… thì cách mạng không thể thành công được. Những lời giảng dạy, khuyên bảo và động viên của chú Thu (bí danh của Bác ở Pác Bó) khiến Nông Thị Trưng càng thêm được mở mang về kiến thức, tầm nhìn, nhiệt huyết với công việc và ngày càng thêm gắn bó thiết tha với gia đình cách mạng.
Tháng 10/1941, tại Pác Bó, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tỉnh ủy Cao Bằng đã thành lập đội du kích tập trung đầu tiên (gọi là Đội du kích Pác Bó) gồm 11 đồng chí: Lê Quảng Ba (Đội trưởng), Trần Sơn Hùng (Đội phó), Lê Thiết Hùng (Chính trị viên), các đồng chí: Thế An, Bằng Giang, Hải Tâm, Hiếu, Đức Thanh… Nông Thị Trưng là nữ đội viên duy nhất của Đội. Đội du kích có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, bảo vệ cán bộ, làm giao thông liên lạc đặc biệt, vũ trang tuyên truyền trong quần chúng, giúp việc huấn luyện tự vệ chiến đấu, làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này. Cũng như anh em nam giới trong Đội, cô cũng không quản ngại khó khăn, gian khổ, chăm chỉ, tích cực học tập, huấn luyện, rèn giũa để nắm được những kiến thức về vũ khí và đấu tranh vũ trang trong cách mạng. Đến mùa xuân năm 1942, Nông Thị Trưng được bố trí đi công tác độc lập, thoát ly khỏi Đội du kích Pác Bó để tham gia hoạt động công tác phụ nữ. Với tri thức và kinh nghiệm sẵn có, đồng chí đã trực tiếp huấn luyện cho các đội tự vệ nữ thuộc các xã Hồng Việt, Sóc Hà…
Một niềm vinh dự, tự hào và là mốc son quan trọng nhất cuộc đời cách mạng của người nữ cán bộ Nông Thị Trưng là được Bác Hồ trực tiếp giáo dục, rèn luyện và giới thiệu kết nạp vào Đảng. Ngày 6/12/1941, tại Ngườm Vài, Pác Bó, cô được kết nạp Đảng. Buổi lễ kết nạp Đảng diễn ra trong hang đá vô cùng đơn sơ, không có cờ, ảnh trang hoàng trang trọng, nhưng không khí trang nghiêm bao trùm. Bác Hồ cùng các đồng chí: Trịnh Đông Hải, Lê Quảng Ba, Vân Trình trực tiếp dự buổi Lễ kết nạp Đảng cho Nông Thị Trưng. Người đã dành cho nữ cán bộ trẻ sự ghi nhận và một niềm tin chắc chắn: “Qua một thời gian được rèn luyện thử thách, đồng chí Trưng tỏ ra có tinh thần kiên quyết cách mạng, xứng đáng được kết nạp vào Đảng”. Từ đây, Nông Thị Trưng đã thực sự trưởng thành, thấm nhuần sâu sắc lý tưởng cách mạng và trở thành một trong những nữ cán bộ chủ chốt đầu tiên của Cao Bằng, khẳng định sự tiến bộ vượt bậc của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng phụ nữ.
Sau khi được kết nạp Đảng, Nông Thị Trưng được phân công đi gây cơ sở tại xã Hồng Việt, phát triển hội viên các Hội Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc… Sau thời gian sang Trung Quốc và bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa bắt giam, cuối năm 1944, trở lại Pác Bó, Bác Hồ đã tặng cuốn “Binh pháp Tôn Tử” cho đồng chí Nông Thị Trưng do chính Người trực tiếp dịch, chú thích và đề thơ vào ngoài bìa: “Vở này ta tặng cháu yêu ta/Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là/Mong cháu ra công mà học tập/Mai sau cháu giúp nước non nhà”…
Được Bác Hồ tặng cuốn sách là một món quà, kỷ vật vô giá và Nông Thị Trưng đã nghiền ngẫm học tập đến gần như thuộc lòng để từ đó vận dụng vào hoạt động công tác, nhất là trong giai đoạn cách mạng đang gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Bà Nông Thị Trưng (1920 - 2003). Ảnh: Tư liệu
Khó khăn, trở ngại và hành trình vượt lên chính mình
Trong sự trưởng thành chung của đội ngũ cán bộ, trước yêu cầu của phong trào cách mạng ngày càng phát triển, giai đoạn hoạt động bí mật và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nông Thị Trưng được Đảng, đoàn thể giao cho nhiều nhiệm vụ. Từ năm 1946 trở đi, bà được phân công làm Phó Bí thư rồi Bí thư Huyện ủy Hà Quảng. Năm 1949, bà được điều động đến công tác tại cơ quan Phụ nữ tỉnh với cương vị là Ủy viên Thường vụ Hội Phụ nữ tỉnh. Trong hoàn cảnh chồng thường xuyên công tác xa nhà, một mình chăm sóc con nhỏ, bà đã xin cấp trên cho quay lại Hà Quảng công tác và được huyện bố trí làm công tác thuế nông nghiệp tại 2 xã: Nà Sác, Xuân Hòa… Năm 1950 - 1951, bà theo chồng sang Hà Giang và được bố trí công tác tại Huyện ủy Vị Xuyên. Cuối năm 1952, khi đồng chí Hồng Tiến đi học lớp Mác - Lê tại Trung Quốc, bà cùng các con lại quay về Cao Bằng. Cuộc sống gia đình khó khăn, thiếu thốn, khiến bà đi tới quyết định xin nghỉ công tác về địa phương.
Trong thời điểm cùng cực, chính tình cảm và sự quan tâm của Bác Hồ đã nâng đỡ bà dậy, vượt lên. Trong hồi ký của bà kể lại câu chuyện đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy gọi bà lên truyền đạt lại về cuộc gặp của đoàn Cao Bằng với Bác Hồ tại Hà Nội và có hỏi thăm về bà. Khi biết bà đã nghỉ công tác, nét mặt Bác đổi sắc, Bác rất buồn và nghiêm khắc bảo: “Không thể thế được! Ngày còn bí mật, khó khăn mấy Trưng nó cũng làm được sao giờ nó lại bỏ về nhà”… Nghe câu chuyện về tình cảm và mối quan tâm, lo lắng của Bác Hồ dành cho mình, bà như bừng tỉnh sau những ngày tháng buồn khổ, u uất. Bà thức trắng đêm tự kiểm điểm và quyết định làm đơn xin tiếp tục công tác, được tổ chức chấp nhận và bố trí làm công tác ở Nông hội huyện đầu năm 1955.
Trở lại đội ngũ, hòa vào dòng tiến bộ chung của Đảng, của cách mạng, nhớ lại đoạn đường vấp ngã và may mắn được Bác Hồ - chú Thu năm xưa nâng dậy, bà càng thấm thía: “Nhiều khi đấu tranh trực diện với quân thù, vào sinh ra tử không khó khăn bằng đấu tranh với kẻ thù trong chính mình là chủ nghĩa cá nhân; và người phụ nữ nếu không thể vượt qua chính mình, vượt qua nghịch cảnh, không đặt lợi ích cách mạng lên trên thì không thể tự giải phóng thoát khỏi mọi ràng buộc, mọi tàn dư tư tưởng cũ, sẽ từ bỏ mất nghĩa vụ thiêng liêng của mình. Ngược lại, nếu biết trọng quyền bình đẳng và luôn mài sắc tính Đảng thì sẽ đủ nghị lực đấu tranh, chống mọi biểu hiện của tư tưởng cá nhân tiêu cực, để vượt qua mọi khó khăn trở ngại đóng góp công sức cho sự nghiệp cách mạng”.
Vượt qua mọi khó khăn, bà càng tận tụy với công việc, vừa đảm việc nhà, vừa tròn việc nước với sự nỗ lực cao nhất. Tháng 9/1960, bà vinh dự được tham gia Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tháng 11/1963, bà được bầu làm Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh. Được phân công nhiệm vụ công tác mới với trọng trách là người đứng đầu ngành Tòa án tỉnh, bà không khỏi băn khoăn, lo lắng, nhưng nhớ lời thề với Đảng và những lời chỉ dạy ân cần của Bác Hồ, bà đã bước vào công tác lãnh đạo ngành với sự nỗ lực cao nhất và giữ cương vị này cho đến khi về hưu năm 1980. Sau khi về nhận nhiệm vụ tại cơ quan mới, chỉ trong mấy tháng, Chánh án Nông Thị Trưng đã tập trung chỉ đạo giải quyết hết hơn 100 vụ án đang tồn đọng. Vừa làm việc nghiêm túc, vừa học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, Chánh án Nông Thị Trưng ngày càng bản lĩnh, vững vàng trong công tác và lãnh đạo đơn vị từ chỗ yếu kém tiến lên những bước vững chắc. Năm 1970, Tòa án nhân dân tỉnh được công nhận là đơn vị tiên tiến, được tỉnh tặng Bằng khen và nhiều năm sau đó, ngành Tòa án nhân dân tỉnh liên tục được Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc công nhận là 1 trong 5 đơn vị tiên tiến có thành tích xuất sắc, được tặng Cờ thi đua và nhiều Bằng khen, nhiều cán bộ, nhân viên được khen thưởng các cấp…, góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Hành trình cách mạng hơn 60 năm của nữ Chánh án Nông Thị Trưng là hành trình dài với nhiều hoạt động phong phú, có những thành tựu, có những lúc khó khăn, thử thách tưởng chừng phải buông bỏ nhưng bà đã gắng gỏi đứng dậy và tiếp tục phấn đấu. Đó là minh chứng sinh động cho sự vươn lên và tiến bộ của người phụ nữ Cao Bằng trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc và của quê hương. Hành trình ấy cũng góp phần khẳng định: Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải do bản thân người phụ nữ làm chủ. Phụ nữ không chỉ trông mong công cuộc giải phóng mình vào người khác, mà họ phải tự mình làm cuộc cách mạng này với nhận thức mới, đúng đắn về vai trò của mình trong gia đình và ngoài xã hội, không ngừng cố gắng vươn lên hoàn thiện bản thân.












