PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: 'Làm du lịch để tạo giá trị kinh tế chứ không chỉ để chơi'
Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, du lịch đã trở thành một trong những lĩnh vực dịch vụ có thế mạnh của Việt Nam, với lượng khách quốc tế và nội địa lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả thu được trên mỗi du khách vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ đặt mục tiêu đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mà quan trọng hơn, mở ra một cách tiếp cận mới: chuyển từ số lượng sang chú trọng chất lượng, giá trị gia tăng và trải nghiệm; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi và bản sắc làm lợi thế cạnh tranh.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận về định hướng này, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) cho rằng, du lịch đã trở thành một trong những lĩnh vực dịch vụ có thế mạnh của Việt Nam, với lượng khách quốc tế và nội địa lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả thu được trên mỗi du khách vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Theo ông, khách quốc tế đến Thái Lan có mức chi tiêu trung bình khoảng 1.400-1.500 USD, trong khi tại Việt Nam con số này chỉ khoảng 1.000 USD. Khoảng cách này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở khả năng thu hút khách mà còn ở việc tạo ra hệ sinh thái dịch vụ đủ hấp dẫn để du khách lưu trú lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn.
“Chúng ta phải chuyển từ thu hút về số lượng, đông người sang tăng doanh số và lợi nhuận; chú trọng hơn đến giá trị mà ngành du lịch thực sự tạo ra”, ông nói.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU). Ảnh: NEU
Biến văn hóa thành giá trị kinh tế
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, một trong những dư địa lớn nhất của du lịch Việt Nam nằm ở văn hóa và di sản. Tuy nhiên, thay vì chỉ dừng ở bảo tồn, trưng bày và bán vé tham quan, cần nhìn văn hóa dưới góc độ kinh tế, gắn với công nghiệp sáng tạo, giải trí, ẩm thực, nghỉ dưỡng và trải nghiệm.
“Văn hóa phải đẻ ra giá trị gia tăng, tạo thêm nguồn thu và việc làm; nguồn lực đó lại được sử dụng để làm cho giá trị văn hóa ngày càng đậm đà hơn”, ông phân tích.
Theo chuyên gia, một điểm đến có di sản không nên chỉ có hoạt động tham quan. Phía sau sản phẩm lõi cần là một chuỗi dịch vụ đủ phong phú như ẩm thực, mua sắm, giải trí, sự kiện văn hóa, chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng và trải nghiệm.
Du lịch gắn với y tế cũng được ông đánh giá là hướng đi giàu tiềm năng. Việt Nam có lợi thế về chi phí và chất lượng trong một số dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, nha khoa. Nếu kết hợp các dịch vụ này với nghỉ dưỡng, trải nghiệm văn hóa, Việt Nam có thể thu hút nhóm khách có khả năng chi trả cao và lưu trú dài ngày.
Cùng với đó, cần phát triển các sản phẩm trải nghiệm chuyên nghiệp hơn, từ du lịch nông nghiệp, nông thôn đến khám phá thiên nhiên, văn hóa cộng đồng. Điều quan trọng là những sản phẩm này phải được đầu tư bài bản và xây dựng thành quần thể dịch vụ thay vì phát triển rời rạc.
“Chúng ta làm du lịch để tạo giá trị kinh tế chứ không chỉ để chơi. Vì vậy, trải nghiệm phải được đầu tư nghiêm túc, chuyên nghiệp và có khả năng tạo doanh thu”, ông nhấn mạnh.
Tạo khác biệt, hướng tới phân khúc cao cấp
Một hạn chế khác của du lịch Việt Nam, theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, là tình trạng nhiều địa phương sao chép sản phẩm của nhau. Nơi này có cày ruộng, nơi khác cũng làm; nơi này có tò he, nơi khác cũng có; nhiều sản phẩm văn hóa, giải trí vì thế thiếu dấu ấn riêng.
Ông cho rằng mỗi vùng, mỗi địa phương cần xây dựng một hệ sản phẩm dựa trên bản sắc riêng. Việt Nam có thể hình thành các vùng văn hóa với những sản phẩm đặc trưng về ẩm thực, nghệ thuật, lễ hội, thiên nhiên và trải nghiệm.

Du khách quốc tế tham quan Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Sở VHTT&DL Hà Nội
Từ thành công của chương trình “Tinh hoa Bắc Bộ”, ông gợi ý có thể phát triển những sản phẩm tương tự dựa trên bản sắc của Trung Bộ, Nam Bộ hoặc từng địa phương. Quan trọng nhất là phải tạo ra những sản phẩm đủ khác biệt để du khách có lý do quay trở lại. “Đặc sắc, khác biệt và sáng tạo chính là nền tảng của công nghiệp sáng tạo trong du lịch”, ông nói.
Theo chuyên gia, Việt Nam cũng cần mạnh dạn phát triển các sản phẩm cao cấp, hướng tới nhóm khách có khả năng chi trả lớn, thay vì chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ. Du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch sự kiện quốc tế, thể thao, giải trí và các khu vui chơi quy mô lớn có thể trở thành những phân khúc quan trọng.
Đặc biệt, Việt Nam cần có những sản phẩm xứng tầm với các tài nguyên độc đáo như Sơn Đoòng, đồng thời xây dựng các khu nghỉ dưỡng, giải trí và trải nghiệm mang đẳng cấp quốc tế.
“Những khu đẳng cấp cao không thể có giá rẻ. Muốn thu hút nhóm khách thượng lưu, chúng ta phải tạo ra sản phẩm tương xứng với khả năng chi trả và kỳ vọng của họ”, ông đề xuất.
Bên cạnh đó, kinh tế đêm cần được mở rộng theo hướng đa dạng, chuyên nghiệp và có khả năng hoạt động trong thời gian dài. Các khu ẩm thực, mua sắm, giải trí, nghệ thuật và trải nghiệm ban đêm nếu được tổ chức tốt sẽ góp phần kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp sáng tạo
Để chuyển từ du lịch số lượng sang du lịch giá trị cao, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng.
Trước hết, Nhà nước cần có chiến lược phát triển du lịch theo hướng giá trị gia tăng cao, xây dựng thể chế thông thoáng và tạo điều kiện cho các mô hình kinh doanh mới. Du lịch vốn là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan đến văn hóa, lịch sử, logistics, giao thông, y tế, ẩm thực, thể thao và tổ chức sự kiện, vì vậy cần sự phối hợp liên ngành.

Chúng ta cần mạnh dạn phát triển các sản phẩm cao cấp, hướng tới nhóm khách có khả năng chi trả lớn, thay vì chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ. Ảnh: Sở VHTT&DL Hà Nội
Việc đăng cai các sự kiện quốc tế lớn cũng được xem là cách để kiểm chứng và nâng cao năng lực phục vụ của điểm đến. Cùng với đó là phát triển khách sạn, khu nghỉ dưỡng, trung tâm hội nghị và các dịch vụ đạt chuẩn quốc tế.
Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy kinh doanh nhỏ lẻ sang đầu tư dài hạn, xây dựng thương hiệu và liên tục nâng cấp sản phẩm. Việc thu hút các tập đoàn quốc tế đầu tư vào du lịch cũng có thể giúp Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với công nghệ, mô hình quản trị và tiêu chuẩn dịch vụ tiên tiến.
Theo ông Lạng, marketing, định vị thương hiệu và chiến lược giá cũng là những yếu tố cần được đầu tư mạnh hơn. Việt Nam không thể chỉ có tài nguyên đẹp mà phải biết “định giá” đúng giá trị của điểm đến.
Hạ tầng giao thông, logistics, số hóa và chính sách visa cũng cần được cải thiện để rút ngắn thời gian di chuyển, tạo thêm thời gian cho du khách trải nghiệm, mua sắm và giải trí.
“Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp sáng tạo, người dân linh hoạt và các đối tác cùng đồng hành. Chỉ khi hình thành được một hệ sinh thái như vậy, du lịch Việt Nam mới có thể cạnh tranh toàn diện, văn minh và bền vững”, ông nhấn mạnh.
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 2025, Việt Nam đón 21,2 triệu khách quốc tế, 137 triệu khách nội địa, doanh thu đạt 1 triệu tỷ đồng, đóng góp 8,8% GDP và tạo 4,41 triệu việc làm. Tính riêng 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã đón gần 16 triệu lượt khách quốc tế, hướng tới mục tiêu 25 triệu lượt khách cho cả năm.


