Phải xử lý triệt để điểm giao thoa giữa hai chu trình ngân sách và đầu tư công
Thảo luận tại Tổ 12 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Vĩnh Long, Điện Biên và Lạng Sơn), các đại biểu Quốc hội đề nghị, dự án Luật Ngân sách Nhà nước (hợp nhất) phải xử lý điểm giao thoa về thẩm quyền, hồ sơ và thời gian giữa chu trình ngân sách với đầu tư công. Đây là điều kiện để chuyển từ việc cộng dồn hai hệ thống quy định sang một luật ngân sách tích hợp.
Xác lập quan hệ thứ bậc giữa ngân sách, nguồn vốn, nhiệm vụ chi và quy trình dự án
Thảo luận về định hướng chính sách xây dựng dự án Luật Ngân sách Nhà nước (hợp nhất), ĐBQH Nguyễn Đào Tùng (Vĩnh Long) ghi nhận, các định hướng chính sách và dự thảo Luật trình kèm đã có những bước tiến lớn so với quy định hiện hành.
Tuy nhiên, "kiến trúc" dự luật hiện tại vẫn còn dấu hiệu của hai hệ thống được đặt trong một đạo luật; kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch đầu tư công 5 năm vẫn được định nghĩa riêng; đầu tư công tiếp tục tồn tại với hệ khái niệm, quy trình và thẩm quyền tương đối độc lập.

ĐBQH Nguyễn Đào Tùng (Vĩnh Long) phát biểu tại tổ
Đại biểu chỉ ra thực tế, chu trình ngân sách và chu trình phê duyệt dự án, vốn đầu tư công quy định tại Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công hiện hành có sự giao thoa về thẩm quyền, hồ sơ, thời gian. Do vậy, Luật hợp nhất phải xử lý chính điểm giao thoa này, không chỉ chuyển quy định của Luật Đầu tư công sang một chương khác.
Đồng thời, đại biểu đề nghị xác lập tại Điều 9 dự thảo Luật một nguyên tắc mới: quản lý ngân sách nhà nước và đầu tư công được thực hiện thống nhất theo chu trình tài chính công trung hạn; kế hoạch đầu tư công là cấu phần của kế hoạch tài chính; dự toán chi đầu tư công là cấu phần của dự toán ngân sách nhà nước.
Việc quyết định phân bổ, sử dụng nguồn lực phải bảo đảm tính thống nhất giữa mục tiêu phát triển, khả năng tài khóa, chi phí vòng đời và kết quả đầu ra. Chương 4 của dự thảo Luật nên được thiết kế theo quan hệ một kế hoạch tài chính 5 năm thống nhất, bên trong có cấu phần đầu tư công, thay vì duy trì hai kế hoạch có địa vị gần như song song.
Theo đại biểu, dù đây là góp ý mang tính kiến trúc, nhưng nếu xử lý được điểm này thì luật mới thực sự chuyển từ việc cộng dồn hai hệ thống quy định sang một luật ngân sách tích hợp.
Phân tích từ thực tế và lý luận về quản lý tài chính công, đại biểu Nguyễn Đào Tùng đề nghị chưa lập tức thay đầu tư công bằng đầu tư xây dựng cơ bản, bởi đầu tư công còn bao gồm nhiều hoạt động ngoài xây dựng.
Theo đại biểu, Ban soạn thảo cần phân tầng lại khái niệm: chi đầu tư phát triển ngân sách nhà nước là khái niệm ngân sách cấp 1, bên trong gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi hình thành tài sản hoặc đầu tư phát triển khác, cấp vốn và các hình thức đầu tư tài chính của Nhà nước. Vốn đầu tư công chỉ nên được sử dụng khi thực sự cần cho quy trình quản lý dự án đầu tư công để phân biệt rõ.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 12 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Vĩnh Long, Điện Biên và Lạng Sơn)
Đặc biệt, đại biểu đề nghị rà soát Điều 6, vì cấp bù lãi suất, cấp vốn điều lệ cho quỹ, vốn đầu tư kết cấu hạ tầng là những hình thức sử dụng ngân sách rất khác nhau về bản chất kinh tế, rủi ro và cơ chế kiểm soát. Theo đại biểu, không nên định nghĩa chi đầu tư phát triển bằng cách cộng cơ học chi đầu tư công; đồng thời, không xóa thuật ngữ đầu tư công mà đặt đúng vị trí dưới khái niệm rộng hơn là chi đầu tư phát triển ngân sách nhà nước.
Phân cấp mạnh hơn nhưng không nên chuyển toàn bộ quyền phân bổ chi tiết đầu tư công từ HĐND sang UBND
Cho ý kiến về quyền hạn, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong quản lý đầu tư công, ĐBQH Nguyễn Đào Tùng cho rằng, cần phân cấp mạnh hơn nhưng không nên chuyển toàn bộ quyền phân bổ chi tiết đầu tư công từ HĐND sang UBND, mà nên áp dụng mô hình phân cấp có điều kiện. Đồng thời, đại biểu kiến nghị một phương án thứ ba là phân cấp theo mức độ trọng yếu.
Theo đại biểu, HĐND quyết định tổng mức, cơ cấu và danh mục vốn đầu tư đối với dự án quan trọng, nhóm A và nhóm B lớn; còn UBND được chủ động phân bổ, điều chỉnh đối với dự án nhóm C và các điều chỉnh kỹ thuật trong phạm vi tổng mức chi tiêu, trần từng lĩnh vực và những nội dung HĐND đã quyết định. Mọi điều chỉnh vượt ngưỡng phải bảo đảm báo cáo Thường trực HĐND tại kỳ họp gần nhất; công khai số liệu theo từng dự án trên hệ thống dữ liệu ngân sách nhà nước và đầu tư công.
Theo đại biểu, quy định như vậy mới đúng với tính chất địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm; người quyết không nhất thiết phải quyết từng thao tác nhỏ nhưng quyết định trọng yếu vẫn nằm ở các cơ quan dân cử.
Liên quan đến thẩm quyền của HĐND và UBND, ĐBQH Lò Thị Luyến (Điện Biên) nhận thấy, tại khoản 3 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 dự thảo đều quy định cùng thời hạn “trước ngày 10/7 năm sau” đối với hai bước công việc có quan hệ kế tiếp nhau: UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh phê chuẩn quyết toán và UBND cấp tỉnh gửi báo cáo quyết toán ngân sách địa phương đã được HĐND cấp tỉnh phê chuẩn cho Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước.

ĐBQH Lò Thị Luyến (Điện Biên) phát biểu tại tổ
Theo đại biểu, quy định như dự thảo Luật chưa thực sự hợp lý và khả thi về mặt thời gian, bởi sau khi HĐND cấp tỉnh phê chuẩn cần có thời gian để rà soát văn bản, trình ký; đồng thời, UBND cấp tỉnh cần thời gian hoàn thiện hồ sơ và gửi báo cáo đến Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước.
Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, điều chỉnh thời hạn tại khoản 3 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 theo hướng bảo đảm có khoảng thời gian hợp lý giữa thời điểm HĐND cấp tỉnh phê chuẩn và thời điểm UBND cấp tỉnh gửi báo cáo quyết toán đã được phê chuẩn.
Về giao, phân bổ chi tiết dự toán ngân sách theo lĩnh vực tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 26, đại biểu Lò Thị Luyến đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung lĩnh vực “văn hóa” bên cạnh các lĩnh vực giáo dục - đào tạo và dạy nghề, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Quy định rõ cơ chế đánh giá sau khi dự án hoàn thành và công khai kết quả
Các ĐBQH Trần Văn Thắng (Vĩnh Long), Nguyễn Trúc Sơn (Vĩnh Long) đề nghị dự thảo Luật Ngân sách Nhà nước (hợp nhất) cần trở thành công cụ pháp lý đột phá, không chỉ dừng ở kỹ thuật hợp nhất văn bản mà phải tạo dựng cơ chế quản lý tài chính hiện đại. Một trong những yêu cầu cốt lõi là chuyển dịch từ phương thức quản lý theo đầu vào truyền thống sang quản lý dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ, gắn với kết quả đầu ra, bảo đảm sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước có hiệu quả kinh tế - xã hội.

ĐBQH Nguyễn Trúc Sơn (Vĩnh Long) phát biểu tại tổ
Dự thảo Luật bổ sung yêu cầu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chương trình, nhiệm vụ, dự án đầu tư công tại khoản 10 Điều 9, khoản 5 Điều 76, điểm b khoản 3 Điều 77 và Điều 84.
Ghi nhận nội dung bổ sung này, song đại biểu Trần Văn Thắng lưu ý, dự thảo mới quy định chung về nội dung phải đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, chưa quy định rõ tiêu chí, nguyên tắc đánh giá. Do vậy, cần nghiên cứu hoàn thiện theo hướng quy định rõ hơn hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư đối với dự án đầu tư làm cơ sở đo lường kết quả; trách nhiệm của cơ quan, người quyết định đầu tư và chủ đầu tư trong việc bảo đảm hiệu quả đầu tư.

ĐBQH Trần Văn Thắng (Vĩnh Long) phát biểu tại tổ
Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế đánh giá sau khi dự án hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng và công khai kết quả đánh giá; trách nhiệm đối với các trường hợp dự án không đạt mục tiêu hoặc hiệu quả thấp.
“Dự thảo Luật phải quy định nguyên tắc, khung tiêu chí đánh giá về hiệu quả kinh tế - xã hội đối với chương trình, dự án và trách nhiệm cụ thể của người quyết định đầu tư khi hiệu quả không đạt yêu cầu, thay vì giao toàn bộ nội dung, phương pháp đánh giá cho Chính phủ quy định chi tiết”, đại biểu nhấn mạnh.


