Phạm Thiên Thư - Bồng bềnh giữa cõi đời và đạo

Qua bao thăng trầm của đời sống và thời cuộc, Phạm Thiên Thư luôn giữ khí chất của một thiền sư, trong khát vọng của triết luận có tính chất nội cảm, lấy tinh chất của đời và đạo làm cứu cánh cho nghệ thuật.

Thi sĩ Phạm Thiên Thư (1940 - 2026).

Thi sĩ Phạm Thiên Thư (1940 - 2026).

Ý nghĩa văn hóa thực tiễn trong nội dung mỹ cảm và giá trị nghệ thuật vượt trội của thơ Phạm Thiên Thư luôn bềnh bồng, hòa quyện giữa cõi đời và đạo, như một bản thể không thể chia cắt.

Cõi thơ riêng

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940, quê gốc ở Kiến Xương, Thái Bình (cũ), nhưng ông được sinh ra ở Hải Phòng và trải qua thời thơ ấu sống ở Hải Dương (cũ), trước khi cùng với gia đình vào định cư tại Tân Định, Sài Gòn (1954). Ông từng giải thích cho việc gia đình phải “trôi dạt nhiều nơi” rằng: “Tôi là cháu của nhà cách mạng Hào Lịch nổi tiếng ở Thái Bình. Bố tôi vừa làm thuốc Nam, vừa làm liên lạc cho ông Hào Lịch. Chúng tôi bị giặc Pháp khủng bố gắt gao, nên trôi dạt nhiều nơi”.

Phạm Thiên Thư lại là người say mê Phật học, từng là sinh viên Viện Đại học Vạn Hạnh, rồi xuất gia và bắt đầu làm thơ khi đang là một tu sĩ (1964 - 1973), nhưng làm thơ đối với ông chỉ là để trải lòng với bạn bè, người thân, trả nợ với đời chứ không mang tính chuyên nghiệp. Nếu chỉ tính đầu sách, Phạm Thiên Thư chỉ có 6 tập thơ, 5 tập “thi hóa” kinh Phật, nhưng thơ ông ít có bài ngắn, chủ yếu là những bài thơ dài mang tính tự sự, trong đó có những tập như Đoạn trường vô thanh, Kinh Hiền hoặc Tự điển cười dài hàng chục nghìn câu, gộp cả lại, ông là chủ nhân của một gia sản khá đồ sộ có đến hơn 126.000 câu thơ (hơn cả sử thi Ấn Độ chỉ mới dừng ở 124.000 câu!).

Về đề tài, dễ nhận ra Phạm Thiên Thư đi sâu vào hai mảng hiện thực thuộc hai lĩnh vực đời sống, đó là thơ tình/ những câu chuyện tự sự kể về tình yêu nam nữ, và “thi hóa” kinh Phật/ đưa nội dung kinh Phật đến với người đọc. Là người đã từng xuất gia, là nhà Phật học, đã thấm nhuần giáo lý và triết lý nhà Phật, cả hai lĩnh vực trong thơ ông đều có sự giao thoa, xuyên thấm và tích hợp nội dung mỹ cảm giữa đời và đạo.

Có lẽ chuyện tình nổi tiếng nhất trong sáng tác của Phạm Thiên Thư là Ngày xưa Hoàng Thị, ông kể về mối tình đơn phương của mình với người bạn gái học cùng lớp ở Trường Trung học Văn Lang (Tân Định, Sài Gòn) - một mối tình học trò e ấp, thầm kín đến mức khi làm thơ, ông cũng tách tên họ nàng ra: họ thì đặt tựa đề, tên thì đưa vào nội dung, nhắc đi nhắc lại: “Em tan trường về/ Đường mưa nho nhỏ/ Anh theo Ngọ về/ Bước dài lặng lẽ (...)”.

Những bài thơ tình của ông nổi tiếng âm vang trong những vòm cong âm thanh của Phạm Duy như Đưa em tìm động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Em đi lễ chùa...

Nhà thơ Phạm Thiên Thư tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như Động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thi, Đoạn trường vô thanh... vừa qua đời vào lúc 16 giờ 15 ngày 7/5/2026, tại nhà riêng ở phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.

An nhiên giữa cõi vô thường

Tác phẩm được giải thưởng cao nhất trong văn học miền Nam năm 1973 là Đoạn trường vô thanh của nhà thơ, càng thấy rõ hơn sự quyện chặt giữa đời và đạo, ngay từ trong cảm thức sáng tạo đến nội dung mỹ cảm. Cũng do cái duyên của người say mê Phật học, Phạm Thiên Thư đã viết lời mười bài Đạo ca cho Phạm Duy phổ nhạc và trở thành người “thi hóa” năm bộ kinh Phật đưa đến với công chúng và Phật tử. Chính từ trong những bài đạo ca và những lần hạnh ngộ, đã tạo mối “lương duyên” cho hai con người tài hoa đã trở thành tri âm tri kỷ.

Còn về những bộ kinh Phật được ông chuyển ngữ thành thơ - một thứ ngữ ngôn của trần thế; có nghĩa ông chuyển giáo lý nhà Phật trở thành ngôn từ của đời sống. Làm công việc đưa những tư tưởng cao siêu, uyên áo của Phật về với đời sống trần tục của con người. Đó là một kỳ công. Bởi vì kinh Phật là triết luận, là thức nhận chân lý, người đọc kinh phải thấu hiểu đến tận cùng lý lẽ, lại cần phải có một tình yêu nồng cháy, một cảm xúc tuôn trào của một tâm hồn thi sĩ, một tài thơ lão luyện đến mức thượng thừa, mới có thể làm được công việc phức tạp và độc đáo này.

Đức Phật dạy rằng: “Mọi chúng sinh đều có phật tánh”. Ông là một người giác ngộ phật pháp, hẳn nhiên cũng là người đã được đánh thức phật tánh, nhưng thơ ông là thế giới của tình yêu lãng mạn. Một thứ tình yêu chưa chín đến mức nồng nàn nhưng vẫn có chút đắm say. Tình yêu trong thơ ông chỉ là bóng chứ chưa là hình. Nó thánh thiện, nhẹ nhàng, kín đáo và mong manh dễ vỡ. Dường như chỉ khẽ chạm vào là tan biến thành khói sương xa mù khuất nẻo.

Trong đời sống, Phạm Thiên Thư cũng yêu nhiều, luôn thể hiện một tình yêu mãnh liệt, đôi khi tinh tế, nhưng nét nổi bật là thuần phác, nghiêng hẳn về nội cảm, một kiểu nội cảm trong cô đơn, thiền định, nhưng rất kiên định. Ông có đến ba đời vợ, hai người trước thuộc nòi thi thư. Một là nữ sĩ Mai Trinh Đỗ Thị, con gái của nhà văn chuyên viết truyện đường rừng Hoàng Ly - người mà mới gặp lần đầu ông đã sửng sốt vì thấy nàng giống người Ngày xưa Hoàng Thị “như hai giọt nước”. Người vợ thứ hai là bà Tuệ Mai, con gái của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, từng sum họp vào cái thời hai người chìm ngập trong vùng sinh quyển của thơ ca ở “động hoa vàng”...

Sau năm 1975, Phạm Thiên Thư gần như quy ẩn. Nhưng do mưu sinh, ông đã từng mở quán cắt tóc ở Lăng Cha Cả (1976 - 1981), rồi đến mở quán tạp hóa, rượu thuốc, giải khát ở đường Lý Chính Thắng (1981 - 1983), trước khi ông sống với người vợ thứ ba và mở quán cà phê Hoa Vàng ở đường Hồng Lĩnh, cư xá Bắc Hải đến nay.

Những năm cuối đời Phạm Thiên Thư sống an nhiên tự tại, thể hiện bản lĩnh văn hóa của một người am hiểu kiếp phù sinh, và có lẽ ông cũng ra đi trong tâm thế bồng bềnh giữa lòng yêu đời nồng cháy và an nhiên trong cõi bát nhã vô thường của nhà Phật.

PHẠM PHÚ PHONG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/pham-thien-thu-bong-benh-giua-coi-doi-va-dao-3336884.html