Phần bổ dưỡng của bắp ngô,mà nhiều người không biết lại bỏ đi: Những tác dụng tiềm năng và điều cần lưu ý trước khi dùng
Bên cạnh hạt ngô, phần râu thường bị bỏ đi cũng chứa nhiều hợp chất thực vật như flavonoid, polyphenol và tannin. Một số nghiên cứu gợi ý râu ngô có tiềm năng hỗ trợ đường huyết, huyết áp và cholesterol, song nhiều kết quả vẫn cần được xác nhận thêm trên người.
Ngô là thực phẩm quen thuộc, cung cấp tinh bột, chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất thực vật. Một bắp ngô cả lõi nặng khoảng 200 g có thể chứa khoảng 6 g chất xơ, góp phần tạo cảm giác no, hỗ trợ hoạt động của hệ tiêu hóa và làm chậm quá trình hấp thu carbohydrate.
Loại thực phẩm này cũng có kali, với lượng khoảng 238 mg trong 100 g. Kali có thể giúp giảm tác động của natri và hỗ trợ thư giãn thành mạch, từ đó góp phần kiểm soát huyết áp. Ngoài ra, ngô chứa vitamin B2 và các carotenoid như lutein, zeaxanthin, là những chất được quan tâm đối với sức khỏe da, niêm mạc và mắt.
Khi ăn ngô, nhiều người chỉ dùng phần hạt rồi bỏ râu. Tuy nhiên, râu ngô lại là phần chứa nhiều hợp chất thực vật, gồm flavonoid, sterol, saponin, allantoin, alkaloid, vitamin K, vitamin C, polyphenol và tannin.

Ngô là thực phẩm quen thuộc, cung cấp tinh bột, chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất thực vật. Ảnh minh họa
Râu ngô được nhắc đến như một nguồn chất chống oxy hóa tự nhiên. Các chất chống oxy hóa có vai trò bảo vệ tế bào trước tác động của gốc tự do và tình trạng căng thẳng oxy hóa. Đây là một trong những yếu tố liên quan đến các bệnh mạn tính như đái tháo đường, bệnh tim, ung thư và viêm nhiễm.
Một số nghiên cứu trên động vật cũng gợi ý râu ngô có phản ứng chống viêm. Nghiên cứu năm 2022 trên chuột gerbil Mông Cổ cho thấy râu ngô có thể giúp ngăn ngừa đột quỵ, một phần nhờ khả năng giảm viêm. Một nghiên cứu trên động vật khác năm 2024 cũng ghi nhận phản ứng chống viêm ở chuột.
Râu ngô còn chứa magie, khoáng chất có thể tham gia điều chỉnh phản ứng viêm của cơ thể. Tuy nhiên, kết quả từ nghiên cứu trên động vật không thể áp dụng trực tiếp cho con người. Các tổng quan nghiên cứu cũng lưu ý cần thêm thử nghiệm lâm sàng để xác nhận tác dụng và mức độ an toàn ở người.
Với đường huyết, một số nghiên cứu cho thấy râu ngô có thể giúp giảm lượng đường trong máu và hỗ trợ kiểm soát các triệu chứng đái tháo đường. Nghiên cứu năm 2024 trên chuột mắc đái tháo đường tuýp 1 ghi nhận râu ngô có thể làm giảm vi khuẩn đường ruột và viêm ruột liên quan đến tình trạng này.
Một bài đánh giá năm 2023 cũng nêu râu ngô có thể tăng sản xuất insulin, hỗ trợ phục hồi tổn thương tuyến tụy và kiểm soát đường huyết ở chuột. Dù vậy, đây mới là những kết quả tiền lâm sàng, chưa đủ để khẳng định hiệu quả trên người.

Râu ngô được nhắc đến như một nguồn chất chống oxy hóa tự nhiên. Ảnh minh họa
Râu ngô cũng được nhắc đến với khả năng hỗ trợ giảm huyết áp do có thể giúp loại bỏ lượng dịch dư thừa trong cơ thể. Phân tích tổng hợp năm 2019 cho thấy trà râu ngô dùng cùng phương pháp điều trị tăng huyết áp thông thường có thể hiệu quả hơn điều trị thông thường đơn thuần, nhưng chất lượng phương pháp của các nghiên cứu được đánh giá còn hạn chế.
Ngoài ra, các nghiên cứu trên động vật năm 2020 và 2016 cho thấy chiết xuất râu ngô có thể làm giảm cholesterol toàn phần và LDL, đồng thời tăng HDL. Tác dụng này vẫn cần được tiếp tục xác minh bằng các thử nghiệm lâm sàng trên người.
Râu ngô thường được dùng để nấu nước uống. Có thể dùng khoảng 10-20 g râu ngô tươi hoặc lượng tương đương râu ngô khô, rửa sạch, cho vào 500-700 ml nước, đun sôi rồi hạ lửa nhỏ khoảng 10-15 phút. Nước sau khi lọc có thể uống ấm hoặc để nguội dùng trong ngày.
Người sử dụng nên chọn râu ngô sạch, không nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và không cho nhiều đường, nhất là người thừa cân, gan nhiễm mỡ hoặc có rối loạn đường huyết. Không nên tự cô đặc thành đồ uống có hàm lượng hoạt chất cao hoặc dùng râu ngô thay thế thuốc điều trị.
(t/h theo Lao Động, Vietnamnet, Dân Trí)


