Phát triển hạ tầng: Từ đột phá chiến lược đến yêu cầu kiểm toán đánh giá hiệu quả đầu tưBài 2: Hạ tầng bứt tốc, nhưng 'điểm nghẽn' quản trị vẫn hiện hữu

Đầu tư công chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi đồng vốn ngân sách được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng và không gian phát triển mới. Qua lăng kính kiểm toán và góc nhìn của các chuyên gia, bức tranh hạ tầng quốc gia hiện lên với nhiều gam màu sáng khi hàng loạt công trình trọng điểm góp phần thay đổi diện mạo đất nước. Tuy nhiên, phía sau sự bứt tốc ấy vẫn còn những 'điểm nghẽn' trong quản trị và tổ chức thực hiện cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả đầu tư công.

Đến hết năm 2025, Việt Nam đã đưa vào khai thác 3.345km đường cao tốc (tuyến chính). Ảnh: N.LỘC

Đến hết năm 2025, Việt Nam đã đưa vào khai thác 3.345km đường cao tốc (tuyến chính). Ảnh: N.LỘC

Hạ tầng bứt tốc, mở ra không gian phát triển mới

Sau gần 4 thập kỷ đổi mới, đặc biệt từ năm 2011 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông. Tại phiên thảo luận Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đầu năm 2026, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh dẫn chứng: Đến hết năm 2025, Việt Nam đã đưa vào khai thác 3.345km đường cao tốc (tuyến chính) và 458km đường dẫn, nút giao; đồng thời hoàn thành, đưa vào khai thác 1.701km đường ven biển và 1.584km quốc lộ. Cùng với đó, hàng loạt công trình, dự án lớn trong lĩnh vực hàng không, đường sắt đang được đầu tư, từng bước hình thành mạng lưới hạ tầng đa phương thức và liên kết đồng bộ hơn.

Trao đổi với Báo Kiểm toán, PGS,TS. Bùi Thị Ngọc - Trưởng Khoa Kế toán và Kinh doanh, Trường Đại học Thủy lợi - cho rằng, dấu ấn rõ nét là sự phát triển của hệ thống đường bộ cao tốc. Bên cạnh đó, việc đầu tư đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống giao thông hiện đại, đồng bộ, mở rộng không gian phát triển mới, tăng cường liên kết vùng, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo PGS,TS. Nguyễn Hồng Thái - Trưởng Khoa Vận tải kinh tế, Trường Đại học Giao thông vận tải, hạ tầng giao thông phát triển không chỉ cải thiện khả năng kết nối giữa các vùng mà còn tạo điều kiện thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp, dịch vụ, du lịch và nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Đây là chủ trương đúng đắn và quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước trong việc ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng - động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Từ góc độ kiểm toán, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước (KTNN) chuyên ngành IV Lại Xuân Nghị cũng đánh giá, cùng với tiến trình phát triển đất nước, hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng đồng bộ, hiện đại, góp phần tạo dựng diện mạo mới cho đất nước.

Song hành với quá trình đó, hoạt động kiểm toán cũng đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện công tác quản trị đầu tư công. Theo TS. Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ, từ khóa XIII, Việt Nam bắt đầu triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn và quá trình này có sự đóng góp đáng kể của KTNN. Kết quả kiểm toán đã góp phần hình thành tư duy mới về quản lý đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước. Qua thực tiễn kiểm toán các dự án hạ tầng, KTNN từng bước chuyển trọng tâm từ kiểm tra tính tuân thủ sang đánh giá toàn diện tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực công.

Đề xuất tăng cường "hậu kiểm" đối với các dự án trọng điểm

Thảo luận tại Phiên họp không thường lệ thứ Nhất về Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc (tỉnh An Giang), đại biểu Đoàn Thị Thanh Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) đề nghị bổ sung cơ chế "hậu kiểm" độc lập đối với các dự án sau khi hoàn thành và quyết toán. Theo đại biểu, cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan kiểm tra, giám sát, trong đó có KTNN, Thanh tra Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền, nhằm bảo đảm việc sử dụng nguồn lực công đúng mục đích, hiệu quả và phòng ngừa thất thoát, lãng phí.

Tham gia thảo luận, Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa đề nghị Dự thảo Nghị quyết cần quy định rõ hơn trách nhiệm của KTNN trong kiểm toán các dự án, công trình thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết, qua đó góp phần tăng cường kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính công và tài sản công, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư đối với các công trình trọng điểm.

Những “điểm nghẽn” mang tính hệ thống

Thực tiễn kiểm toán cho thấy, những hạn chế trong đầu tư hạ tầng hiện nay không xuất phát từ một khâu riêng lẻ mà là hệ quả của chuỗi vấn đề liên kết từ khâu chuẩn bị đầu tư, tổ chức thực hiện đến vận hành, khai thác công trình.

Các bất cập chủ yếu gồm: khảo sát chưa đầy đủ; dự báo thiếu chính xác; phải điều chỉnh hoặc cắt giảm quy mô đầu tư; tổng mức đầu tư tăng; tiến độ kéo dài. Một số dự án có hiệu quả khai thác thấp hơn dự kiến, thậm chí chi phí vận hành cao hơn nhiều lần so với tính toán do áp dụng công nghệ không phù hợp.

Những hạn chế đó dẫn đến công suất khai thác thấp, mục tiêu đầu tư chưa đạt như kỳ vọng, hạ tầng kết nối thiếu đồng bộ, công trình được khai thác không đúng công năng thiết kế, thậm chí hoạt động cầm chừng dù ngân sách đã được bố trí.

Thực tế kiểm toán tại nhiều dự án trọng điểm đã phản ánh rõ những bất cập này. Điển hình, Dự án xây dựng trụ sở Bộ Ngoại giao khởi công từ năm 2009 nhưng đến thời điểm kiểm toán năm 2019 mới đưa vào khai thác một phần công trình. Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TP. Hồ Chí Minh (giai đoạn 1) hoàn thành hơn 90% khối lượng từ năm 2018 nhưng đến năm 2026 vẫn chưa được đưa vào khai thác. Hai tuyến đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội và Cát Linh - Hà Đông sử dụng các tiêu chuẩn công nghệ khác nhau, gây khó khăn cho việc kết nối và khai thác đồng bộ. Trong khi đó, Dự án Nhà máy Ethanol Bình Phước phải dừng hoạt động sau khi hoàn thành, không đạt mục tiêu đầu tư và không phát huy hiệu quả sử dụng vốn.

Theo các chuyên gia, những trường hợp trên tuy khác nhau về lĩnh vực và nguyên nhân trực tiếp nhưng đều phản ánh những hạn chế trong công tác chuẩn bị đầu tư, tổ chức thực hiện và quản trị dự án. Đây cũng là những vấn đề mà KTNN đã nhiều lần phát hiện, kiến nghị khắc phục thông qua hoạt động kiểm toán.

PGS,TS. Bùi Thị Ngọc đánh giá, các phát hiện của KTNN cho thấy những bất cập trong đầu tư hạ tầng mang tính hệ thống, xuyên suốt từ khâu chuẩn bị đầu tư, thẩm định, bố trí vốn, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, thi công đến vận hành, khai thác. Vì vậy, việc khắc phục cần được thực hiện đồng bộ. Theo bà, khảo sát chưa đầy đủ dẫn đến dự báo thiếu chính xác, kéo theo thiết kế và tổng mức đầu tư phải điều chỉnh, làm chậm tiến độ, tăng chi phí và giảm hiệu quả khai thác. Điều đó cho thấy hiệu quả của một dự án phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư.

TS. Nguyễn Đức Kiên cũng chỉ ra một vấn đề mang tính hệ thống là sự thiếu kết nối trong quá trình triển khai các dự án trên cùng một địa bàn. Có dự án do cơ quan trung ương thực hiện, có dự án do địa phương đảm nhiệm, nhưng cơ chế phối hợp giữa các chủ thể chưa thực sự hài hòa, dẫn đến hạ tầng thiếu liên thông, đồng bộ và kéo dài những bất cập.

Tiềm ẩn nguy cơ lãng phí

Kết quả kiểm toán của các KTNN chuyên ngành và KTNN khu vực trong những năm qua còn cho thấy nguy cơ lãng phí vẫn tiềm ẩn ở nhiều khâu trong quá trình triển khai các dự án đầu tư công. Cụ thể, trong khâu lập, thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư, vẫn còn trường hợp đưa dự án vào danh mục đầu tư công trung hạn khi chưa thực sự cấp thiết hoặc khởi công rồi phải tạm dừng, ảnh hưởng đến quy hoạch và làm giảm tính kết nối của hệ thống hạ tầng.

Trong lựa chọn nhà thầu, việc thương thảo hợp đồng chưa chặt chẽ; một số nhà thầu có năng lực hạn chế vẫn được tạm ứng vốn gói thầu nhưng thi công chậm, làm mất cơ hội đưa công trình vào khai thác sớm.

Khâu nghiệm thu, thanh toán và quản lý chất lượng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như: Thanh toán sai khối lượng; sử dụng thiết bị chưa được kiểm định; nghiệm thu trước khối lượng thực hiện. Bên cạnh đó, sự chậm trễ trong giải phóng mặt bằng khiến máy móc, nhân lực phải chờ đợi, làm tăng chi phí do biến động giá nguyên vật liệu.

Lãng phí không chỉ tiềm ẩn ở những khoản chi chưa hợp lý hoặc chi phí phát sinh, mà còn ở việc nguồn lực chậm được đưa vào sử dụng, công trình chậm phát huy công năng, hiệu quả khai thác thấp hoặc chất lượng quản lý không bảo đảm, làm giảm tuổi thọ công trình.

Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, đây là cách tiếp cận phù hợp với kinh tế học, bởi vốn là nguồn lực có chi phí cơ hội. Một công trình đầu tư hàng nghìn tỷ đồng nhưng chậm đưa vào khai thác 3 năm cũng đồng nghĩa với việc xã hội mất đi 3 năm lợi ích, cộng với chi phí vốn trong khoảng thời gian đó. Khoản tổn thất này có thể không xuất hiện trên chứng từ, nhưng là thiệt hại thực tế. Việc nhận diện dấu hiệu lãng phí “vô hình” là bước tiến về phương pháp luận trong kiểm toán các dự án đầu tư.

Những hạn chế trong quản trị đầu tư hạ tầng bắt nguồn từ đâu? Những kiến nghị của KTNN nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công sẽ được phân tích trong bài viết tiếp theo./.

NHÓM PHÓNG VIÊN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/phat-trien-ha-tang-tu-dot-pha-chien-luoc-den-yeu-cau-kiem-toan-danh-gia-hieu-qua-dau-tu-bai-2-ha-tang-but-toc-nhung-diem-nghen-quan-tri-van-hien-huu