Phát triển kinh tế tầm thấp - Bài 3: Cơ chế 'luồng xanh' xử lý sự cố môi trường
Phát triển kinh tế tầm thấp trong ngành nông nghiệp và môi trường nói chung, giám sát môi trường không khí nói riêng là một trong những ứng dụng khoa học công nghệ vào giám sát chi tiết và xử lý các tình huống phát sinh theo thời gian thực đối với ô nhiễm không khí một cách kịp thời.

Agridrone Việt Nam đã giúp giảm một phần lượng thuốc rơi vãi trên nước và đất, cải tạo nguồn đất nông nghiệp, chi phí canh tác giảm 20-30%, chất lượng nông sản được nâng tầm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật kiểm soát minh bạch. Ảnh minh họa: vietnam.vnanet.vn
Trong thời đại công nghệ số hóa, Drone hay UAV (máy bay không người lái) với sự linh hoạt, khả năng bay ở các độ cao và vị trí khó tiếp cận đã mang lại nhiều lợi ích. Đây là công cụ quan trọng và hiệu quả trong việc giám sát các hoạt động liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, ô nhiễm không khí và bảo vệ môi trường. Để làm rõ vai trò của Drone/UAV trong giám sát ô nhiễm không khí, môi trường hiện nay, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn ông Vũ Hữu Liêm, Giám đốc Trung tâm Giám sát Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường, Cục Viễn thám quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Là đơn vị được giao trong việc thực hiện giám sát lĩnh vực nông nghiệp, môi trường, xin ông cho biết việc triển khai, thực hiện drone trong giám sát ô nhiễm không khí, môi trường hiện nay như thế nào?
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo Quyết định số 637/QĐ-BNNMT, công tác quan trắc và giám sát môi trường luôn được Trung tâm đặt lên hàng đầu. Trong bối cảnh ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi mịn tại các đô thị lớn đang diễn biến phức tạp, việc ứng dụng công nghệ cao như thiết bị bay không người lái (drone/UAV) không còn là thử nghiệm mà đã trở thành công cụ không thể thiếu bên cạnh các ảnh viễn thám độ phân giải cao và siêu cao chụp từ vệ tinh của chúng tôi.
Về thực tiễn triển khai, vào cuối năm 2025, chúng tôi đã thực hiện thành công đợt giám sát chuyên sâu bằng drone đối với các điểm phát thải do hiện tượng đốt rơm, rạ cũng như hoạt động xây dựng trọng điểm trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chúng tôi tập trung vào các nguồn thải chính như: tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch, các đại công trường xây dựng, các điểm nóng giao thông và khu công nghiệp.
Đến nay, các kết quả giám sát này đã được tổng hợp, báo cáo đầy đủ, cung cấp cho cơ quan quản lý những hình ảnh trực quan, số liệu tọa độ chính xác để các cơ quan chức năng có được số liệu chi tiết trong hoạch định chính sách và quản lý chuyên ngành.
Tuy nhiên, từ những kết quả đạt được, chúng tôi nhận thấy, nếu chỉ dùng drone đơn thuần thì vẫn mang tính chất sự vụ và tốn nhiều nhân lực thao tác. Bám sát Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026 - 2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chúng tôi đã đề xuất nhiệm vụ nhằm chuyển sang một giai đoạn mới hiện đại hơn.
Cụ thể, Trung tâm đã đề xuất và đang khẩn trương đẩy mạnh nhiệm vụ: "Ứng dụng AI, công nghệ viễn thám, thiết bị bay không người lái giám sát, phát hiện sớm các điểm đốt mở và các khu vực xây dựng gây phát thải lớn.
Việc triển khai của nhiệm vụ này sẽ được cấu trúc thành một quy trình giám sát thông minh, khép kín và mở rộng quy mô trên toàn bộ khu vực rộng lớn như tỉnh, thành phố.
Các giải pháp chính bao gồm quét diện rộng bằng Viễn thám: Sử dụng ảnh viễn thám kết hợp với các chỉ số quang học, ảnh nhiệt để quét liên tục trên một khu vực rộng lớn, các thuật toán phân tích, lấy mẫu phục vụ chiết xuất thông tin, xác định khu vực công trường xây dựng, làng nghề có lò đốt nhằm xác định nguồn ô nhiễm không khí.
Nhận diện tự động bằng AI: Thuật toán trí tuệ nhân tạo để nhận biết điểm cháy từ các nguồn dữ liệu ảnh thu thập từ UAV, camera giám sát sẽ tự động phân tích ảnh vệ tinh, khoanh vùng ngay lập tức các khu vực có dấu hiệu đốt mở (phát nhiệt, khói) hoặc các công trường đang phát tán bụi.
Xác minh chi tiết bằng Drone: Ngay khi AI cảnh báo "điểm nóng", drone sẽ được điều động bay tự động đến đúng tọa độ đó để chụp ảnh, quay video cận cảnh, đo đạc chất lượng không khí tại chỗ để làm bằng chứng trực quan.
Có thể nói, việc tích hợp chuỗi công nghệ "Viễn thám - AI - Drone" giúp chúng tôi chuyển hoàn toàn từ thế "bị động, đi tìm nguồn thải sang "chủ động phát hiện sớm và cảnh báo theo gần thời gian thực". Điều này không chỉ tối ưu hóa nguồn lực của Trung tâm mà còn cung cấp công cụ đắc lực cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát và ngăn chặn triệt để các hành vi gây ô nhiễm không khí hiện nay.
Ông có thể nêu ví dụ cụ thể trong việc triển khai Drone để giám sát thực trạng ô nhiễm môi trường không khí?
Như tôi đã đề cập ở trên, cuối năm 2025, theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc phân công triển khai một số nhiệm vụ cấp bách giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí tại thành phố Hà Nội 6 tháng cuối năm, chúng tôi đã triển khai nhiệm vụ "Thực hiện bay drone theo dõi tình trạng đốt tại các khu vực đất nông nghiệp và các khu vực công trường xây dựng lớn trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm xác định, cảnh báo sớm các khu vực đốt phế phụ phẩm lớn, các công trường xây dựng để xảy ra phát tán bụi lớn", với các mục tiêu cụ thể là giám sát và cung cấp dữ liệu về các khu vực công trường xây dựng để xảy ra phát tán bụi lớn bằng công nghệ viễn thám kết hợp với điều tra thông tin thực địa; giám sát và cung cấp dữ liệu về tình trạng đốt rơm rạ và phế phụ phẩm tại các khu vực đất trồng lúa tại một số điểm nóng trên địa bàn thành phố Hà Nội bằng thiết bị bay không người lái; cảnh báo và cung cấp thông tin đến các cơ quan truyền thông.
Giải pháp kỹ thuật cụ thể là chúng tôi đã sử dụng thiết bị bay không người lái – Drone có kết nối hệ thống định vị chính xác cao RTK để thu nhận dữ liệu các đối tượng bề mặt bao gồm: Hệ thống giao thông, kênh mương, các bờ thửa ruộng lúa, đặc biệt các khu vực có hoạt động đốt rơm rạ, đốt phế phụ phẩm lớn cũng như các khu vực công trường xây dựng gây ô nhiễm không khí.
Cùng với đó, chúng tôi triển khai kết hợp điều tra xác minh và bổ sung thông tin các khu vực có ghi nhận và có khả năng cao nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại thực địa. Tất cả các đối tượng gây ô nhiễm cũng như có nguy cơ cao gây ô nhiễm đã được ghi nhận trên tệp tin dữ liệu số về địa điểm (tọa độ không gian chính xác), thời gian, tính chất, diện tích, các thông tin thuộc tính mô tả khác phục vụ cung cấp bộ dữ liệu đã giám sát cũng như thông tin chi tiết đến cơ quan quản lý.
Kết quả đã ghi nhận 1.033 điểm đốt rơm rạ trong 372 ha, 104,8 ha khu vực các công trình xây dựng lớn có hoạt động xây dựng gây ô nhiễm môi trường.
Việc triển khai, thực hiện Drone/UAV có thuận lợi và khó khăn gì thưa ông?
Việc sử dụng máy bay không người lái (Drone/UAV) giám sát giám sát các điểm phát thải trọng điểm về đốt rơm rạ, xây dựng, giao thông, công nghiệp dựa trên các đặc điểm kỹ thuật khả năng vượt trội của UAV như về độ phân giải không gian ảnh chụp, tần suất thu nhận, khả năng định vị nguồn phát thải, phản ứng nhanh, thời gian thực.
Phương pháp sử dụng máy bay không người lái giám sát các điểm phát thải trọng điểm về đốt rơm rạ, xây dựng, giao thông, công nghiệp đã triển khai có các ưu thế và hiệu quả cụ thể trong việc ghi nhận, giám sát các khu vực nguy hiểm, khó tiếp cận bằng các phương pháp điều tra khác như khu vực công trường đang thi công, nhà máy công nghiệp rộng lớn, ống khói cao, địa hình phức tạp.
Máy đo LIDAR (Light Detection and Ranging) có thể sử dụng để lập bản đồ 3D và đánh giá sự khuếch tán của các đám khí thải, UAV có thể thực hiện các phép đo theo chiều dọc và ngang, cung cấp dữ liệu để mô hình hóa sự khuếch tán và lan truyền của chất ô nhiễm từ nguồn thải, một thông tin mà các trạm quan trắc mặt đất cố định khó có thể cung cấp đầy đủ.
Tuy nhiên, một số vấn đề khó khăn hiện nay đó là cơ chế xin phép bay. Quy trình cấp phép bay hiện tại chủ yếu phục vụ an ninh quốc phòng, đòi hỏi thời gian thẩm định và xin phép qua nhiều khâu từ Cục Tác chiến. Trong khi đó, tính chất của giám sát môi trường và thiên tai (như phát hiện cháy, lũ lụt, xả thải trộm) lại mang tính đột xuất, cần phản ứng tức thời (real-time). Chúng ta chưa có cơ chế "luồng xanh" hay hành lang bay dân sự chuyên biệt phục vụ nhiệm vụ nhà nước.
Khác với vệ tinh hoạt động ngoài không gian, drone dân dụng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi thời tiết cực đoan (mưa lớn, gió giật mạnh, sương mù dày). Bên cạnh đó, thời lượng pin hiện tại (thường chỉ 30-45 phút mỗi chuyến bay) khiến việc bao quát các vùng diện tích lớn hoặc bay liên tục qua đêm gặp nhiều hạn chế nếu không có các trạm sạc tự động.
Về áp lực về hạ tầng dữ liệu và nhân lực, mỗi chuyến bay drone tích hợp đa cảm biến (quang học, ảnh nhiệt, đo khí) sinh ra một lượng dữ liệu khổng lồ. Việc truyền tải số liệu theo thời gian thực về Trung tâm điều hành đòi hỏi hạ tầng viễn thông mạnh, băng thông lớn và máy chủ xử lý AI tốc độ cao. Đồng thời, công tác này cũng đòi hỏi cán bộ kỹ thuật có trình độ năng lực – không chỉ biết điều khiển drone mà còn phải am hiểu về dữ liệu môi trường và các chuyên môn kỹ thuật chuyên ngành.
Cần có những giải pháp gì trong khai thác drone, thiết bị tầm thấp đo đạc chất lượng không khí, phát hiện sớm ô nhiễm; thu thập dữ liệu khí tượng để nâng độ chính xác của các mô hình dự báo, cảnh báo sớm thiên tai; cơ chế quản lý, hoàn thiện hệ thống hạ tầng, kết nối dữ liệu bay, thưa ông?
Trước mắt cần thành lập các "Tổ bay cơ động"; phản ứng nhanh tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh hoặc các khu vực trọng điểm. Trang bị drone mang cảm biến đa dụng (đo PM2.5, CO, SO2) và camera nhiệt để xác minh nhanh, lấy thông số tại các "điểm nóng" (khu vực đốt rơm rạ, đại công trường) do AI cảnh báo từ ảnh vệ tinh.
Đối với khí tượng, sử dụng UAV thu thập dữ liệu tầng đối lưu thấp, nơi các trạm quan trắc mặt đất hiện gặp "điểm mù".
Về cơ chế quản lý và cấp phép bay, cần đề xuất xây dựng quy chế phối hợp liên ngành với Bộ Quốc phòng (Cục Tác chiến). Chuyển từ việc xin cấp phép từng chuyến bay đơn lẻ sang thiết lập cơ chế "luồng xanh" hoặc cấp phép bay theo định kỳ tại các tuyến quan trắc cố định, nhằm bảo đảm tính kịp thời khi có sự cố môi trường đột xuất.
Đối với hạ tầng và kết nối dữ liệu: Tích hợp ngay lập tức chuỗi dữ liệu (Data Pipeline) từ UAV vào nền tảng bản đồ WebGIS hiện có. Luồng dữ liệu bao gồm hình ảnh, video trực tuyến và chỉ số đo đạc môi trường sẽ được truyền trực tiếp về Trung tâm Điều hành nhằm phục vụ công tác ra quyết định và xử phạt theo thời gian thực.
Về lâu dài, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý hạ tầng bay. Theo đó đơn vị chuyên môn tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Chính phủ xây dựng hành lang pháp lý cho "Không gian kinh tế tầm thấp" và Hệ thống Quản lý Không lưu UAV (UTM). Quy hoạch các "Hành lang bay môi trường" chuyên biệt phục vụ quan trắc tài nguyên dân sự hoàn toàn tự động.
Cùng với đó là triển khai các Trạm sạc UAV tự động tại các khu vực rủi ro cao (khu công nghiệp lớn, bãi rác tập trung, lưu vực sông). UAV sẽ tự động cất cánh theo lập trình sẵn, bay tuần tra, thu thập dữ liệu qua mạng 5G/6G và tự động quay về sạc mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người tại hiện trường.
Ngoài ra, cần tích hợp dữ liệu khí tượng không gian ba chiều từ hàng ngàn chuyến bay UAV vào các mô hình dự báo số trị (NWP) quốc gia, giúp nâng cao tính chính xác trong cảnh báo sương mù nghịch nhiệt hay lũ quét cục bộ. Xây dựng nền tảng Nền tảng GeoAI dùng chung có khả năng tự động đối soát, phân tích và gửi tin nhắn cảnh báo (SMS/App) đến các cơ quan quản lý địa phương nhanh chóng, kịp thời.
Việc làm chủ công nghệ không gian tầm thấp không chỉ là bài toán kỹ thuật mà là sự thay đổi về hệ hình quản trị. Chúng ta sẽ chuyển từ vị thế "đi tìm nguồn phát thải" sang thế chủ động "giám sát liên tục và tự động cảnh báo sớm".
Trân trọng cảm ơn ông!

