Phát triển kinh tế tầm thấp - Bài 2: Cơ giới hóa nông nghiệp trên không

Từ phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ, bón phân đến giám sát cây trồng và vận chuyển nông sản, thiết bị bay không người lái (UAV/drone) đang từng bước mở rộng phạm vi ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam.

Công nghệ này góp phần giảm sức lao động, tối ưu hóa vật tư đầu vào, thúc đẩy cơ giới hóa và từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng hiện đại.

Ứng dụng công nghệ tưới tiêu bằng drone trên cánh đồng. Ảnh minh họa: TTXVN phát

Ứng dụng công nghệ tưới tiêu bằng drone trên cánh đồng. Ảnh minh họa: TTXVN phát

Từ thử nghiệm sang ứng dụng thực tiễn

Theo bà Bùi Thanh Hương, Trưởng phòng Quản lý thuốc bảo vệ thực vật, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), UAV/drone trong nông nghiệp đã chuyển dần từ giai đoạn thử nghiệm sang ứng dụng thực tiễn, dù mức độ triển khai giữa các địa bàn chưa đồng đều. Thiết bị hiện được sử dụng chủ yếu để phun thuốc bảo vệ thực vật, bón phân, rải giống, tưới nước chính xác cục bộ, giám sát đồng ruộng, theo dõi sinh trưởng và phát hiện sâu bệnh; trong đó, phun thuốc bảo vệ thực vật là ứng dụng phổ biến nhất.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, drone đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp khoảng 5 năm qua và ngày càng phổ biến. Ông Thái Việt Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần đầu tư Saty Holding cho biết, toàn vùng hiện sử dụng khoảng 6.000 drone. Nếu trước đây thiết bị chủ yếu mang bình phun dung tích 10–20 lít, hiện nay đã xuất hiện các dòng có tải trọng lớn hơn, đảm nhiệm nhiều công việc như gieo sạ, bón phân và phun thuốc bảo vệ thực vật.

Việc sử dụng drone giúp rút ngắn thời gian thực hiện các công đoạn sản xuất, giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, nhất là tại những vùng canh tác diện tích lớn. Khi được vận hành đúng kỹ thuật, thiết bị còn góp phần sử dụng vật tư hiệu quả hơn, hạn chế thất thoát và giảm nguy cơ người sản xuất tiếp xúc trực tiếp với hóa chất trong quá trình phun thuốc.

Không dừng ở phun, rải vật tư, UAV còn được ứng dụng để giám sát đồng ruộng và đánh giá tình trạng cây trồng. Tiến sĩ Lương Việt Quốc, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Realtime Robotics Việt Nam, cho biết doanh nghiệp phát triển các ứng dụng UAV để giải quyết những bài toán cụ thể trong nông nghiệp như xây dựng bản sao số và kiểm tra sức khỏe cây trồng.

Ông Lương Việt Quốc dẫn chứng việc kiểm tra cây cao su mới trồng. Với phương pháp truyền thống, người trồng phải thuê nhân công đến từng hố để xác định cây sống hay chết, với chi phí khoảng 170.000 đồng/ha. Sử dụng UAV có thể nâng cao năng suất kiểm tra và giảm chi phí. Dữ liệu thu thập được cũng giúp người sản xuất có thêm cơ sở đánh giá tình trạng cây trồng, xác định khu vực cần chăm sóc.

Theo cơ quan quản lý, khi kết hợp với bản đồ, cảm biến và công nghệ số, thiết bị bay có thể hỗ trợ phát hiện sớm sâu bệnh, theo dõi sinh trưởng và nâng cao khả năng quản lý sản xuất. Đây là hướng phát triển từ cơ giới hóa đơn thuần sang nông nghiệp chính xác; trong đó các quyết định chăm sóc và sử dụng vật tư được thực hiện dựa trên tình trạng thực tế của cây trồng.

Một hướng ứng dụng mới là sử dụng UAV vận chuyển vật tư và nông sản tại những khu vực địa hình khó khăn. Tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, nơi có các vùng sản xuất cà phê, mắc ca cách điểm tập kết, thu mua khoảng 4–5 km, địa hình dốc và đường vận chuyển hạn chế, thiết bị bay không người lái đang được thử nghiệm để vận chuyển cà phê.

Với tải trọng 50 kg mỗi chuyến, UAV giúp rút ngắn chặng vận chuyển, mở ra phương thức logistics phù hợp hơn với điều kiện sản xuất tại địa phương. Theo ông Nguyễn Bá Anh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên, địa phương đã cấp phép thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số phát triển kinh tế tầm thấp bằng phương tiện bay không người lái.

Chương trình thử nghiệm kéo dài 24 tháng, dự kiến thực hiện 6.000 chuyến bay, phấn đấu đạt tỷ lệ an toàn trên 99%. Ngoài vận chuyển nông sản, địa phương định hướng ứng dụng UAV trong vận chuyển vật tư sản xuất, giám sát mùa vụ, phun thuốc, gieo hạt, khảo sát, lập bản đồ số và logistics y tế.

Theo ông Nguyễn Bá Anh, giá trị của chương trình không chỉ nằm ở số chuyến bay hay số lượng thiết bị được sử dụng, mà còn ở việc hình thành dữ liệu thực tế, quy trình phối hợp, kinh nghiệm quản lý rủi ro và cơ sở đánh giá chính sách.

Chuẩn hóa quy trình để nhân rộng

Mặc dù mang lại nhiều lợi ích, hiệu quả sử dụng UAV vẫn phụ thuộc vào quy trình kỹ thuật và điều kiện sản xuất cụ thể. Ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam cho biết, phương pháp phun thể tích thấp bằng drone làm thay đổi các yếu tố như kích thước giọt phun, lượng nước và khả năng tiếp xúc của dung dịch thuốc với cây trồng. Do đó, cần nghiên cứu, hướng dẫn cách sử dụng phù hợp để bảo đảm hiệu quả và hạn chế thất thoát.

Không phải loại thuốc bảo vệ thực vật nào cũng phù hợp để phun bằng drone. Hiệu quả còn phụ thuộc vào cây trồng, đối tượng gây hại và điều kiện môi trường. Một số trường hợp khó đưa thuốc đến vị trí sinh vật gây hại hoặc có nguy cơ tắc vòi phun do đặc tính của sản phẩm. Vì vậy, việc lựa chọn thuốc, liều lượng và kỹ thuật phun cần tuân thủ hướng dẫn chuyên môn.

Từ năm 2020, các công ty thành viên Hiệp hội CropLife Việt Nam phối hợp với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, các tổ chức khảo nghiệm và đơn vị cung cấp thiết bị bay trong nước triển khai thử nghiệm phun thuốc bằng drone trên 7 nhóm cây trồng, với 8 dạng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ 15 loại sinh vật gây hại. Kết quả khảo nghiệm là cơ sở để Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật ban hành Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 830:2022/BVTV về khảo nghiệm trên đồng ruộng thuốc bảo vệ thực vật phòng, chống sinh vật gây hại cây trồng bằng drone vào đầu năm 2023.

Bên cạnh yêu cầu kỹ thuật, chi phí đầu tư thiết bị vẫn là trở ngại đối với nhiều hộ nông dân và hợp tác xã, nhất là trong điều kiện sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ. Vận hành drone cũng đòi hỏi nhân lực được đào tạo, tuân thủ quy trình an toàn và các quy định liên quan đến hoạt động bay. Với những cây trồng có tán lớn, trồng xen canh hoặc có hệ thống cây chắn gió, việc lựa chọn thiết bị và kỹ thuật phun càng cần được tính toán phù hợp.

Hiện nay, ba mô hình ứng dụng chính gồm thuê dịch vụ; hợp tác xã hoặc tổ hợp tác sở hữu thiết bị dùng chung và doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao tự đầu tư trong chuỗi sản xuất khép kín. Trong đó, mô hình thuê dịch vụ phổ biến hơn do giúp nông dân giảm gánh nặng đầu tư ban đầu, đồng thời tạo điều kiện sử dụng thiết bị theo nhu cầu thực tế.

Theo bà Bùi Thanh Hương, để mở rộng ứng dụng UAV/drone cần tiếp tục hoàn thiện quy định quản lý, tăng cường đào tạo người vận hành, chuyển giao kỹ thuật và phát triển thị trường dịch vụ chuyên nghiệp. Cùng với đó, việc tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao vai trò của hợp tác xã và tích hợp dữ liệu từ thiết bị bay vào hệ thống quản lý sản xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ.

Từ phun thuốc, gieo sạ đến giám sát cây trồng và vận chuyển nông sản, UAV/drone đang mở thêm hướng ứng dụng trong nông nghiệp. Để công nghệ phát huy hiệu quả bền vững, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng số lượng thiết bị mà còn phải chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, bảo đảm an toàn và xây dựng mô hình dịch vụ phù hợp với điều kiện của từng vùng sản xuất.

Bài 3: Cơ chế "luồng xanh" xử lý sự cố môi trường

Bích Hồng/TTXVN

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/phat-trien-kinh-te-tam-thap-bai-2-co-gioi-hoa-nong-nghiep-tren-khong-post1395317.html