Phát triển nông nghiệp đô thị - thay đổi tư duy trong kỷ nguyên mới
Từ 19h đến 20h hôm nay (3-4), Chương trình thời sự với chủ đề: 'Phát triển nông nghiệp đô thị - thay đổi tư duy trong kỷ nguyên mới' được truyền hình trực tiếp trên các kênh sóng của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
Hai khách mời tham dự Chương trình là PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu rau quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam.

Các khách mời tham dự Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Chương trình tập trung phân tích vai trò của nông nghiệp Hà Nội bước vào giai đoạn chuyển đổi căn bản, từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp đô thị. Nếu trước đây, trọng tâm chủ yếu là sản lượng, diện tích và quy mô chăn nuôi, trồng trọt, thì nay vấn đề cốt lõi là tạo ra giá trị gia tăng cao hơn trên đơn vị đất đai, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đô thị lớn, bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sống của người dân, tăng khả năng kết nối với thị trường.

Trồng hoa lan công nghệ cao tại xã Mê Linh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng
Nông nghiệp vì thế không còn nhìn nhận như lĩnh vực tách biệt ở khu vực ngoại thành mà trở thành bộ phận hữu cơ trong mô hình tăng trưởng mới của Thủ đô gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và liên kết vùng.

Trồng rau theo công nghệ cao tại xã Nội Bài, Hà Nội. Ảnh Phạm Hùng
Tinh thần đó không chỉ thể hiện trong Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới” mà còn được cụ thể hóa trong Quyết định 1193/QĐ-UBND của UBND thành phố. Hà Nội xác định phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với kinh tế nông nghiệp đô thị là một trong những bài toán lớn của Hà Nội giai đoạn 2026-2030.
Trên nền tảng đó, chương trình tập trung làm rõ sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm, cách tổ chức lại nông nghiệp của Hà Nội từ mục tiêu trước mắt đến năm 2030 và tầm nhìn 2045...
Nghị quyết 02 định hướng đột phá cho phát triển bền vững nông nghiệp đô thị Hà Nội
Mở đầu chương trình, PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam nhấn mạnh, so với Nghị quyết 15 trước đây, Nghị quyết 02 có nhiều điểm mới mang tính đột phá. Với vị thế là Thủ đô, có những đặc thù riêng, Hà Nội được áp dụng các cơ chế đặc biệt, nổi bật là tầm nhìn quy hoạch lên tới 100 năm. Đây là nền tảng quan trọng không chỉ cho phát triển đô thị mà còn mở ra cơ hội thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam tại Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Nghị quyết cũng trao quyền chủ động hơn cho chính quyền thành phố trong việc thúc đẩy phát triển bền vững; đồng thời định hướng đổi mới tư duy kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và chuyển đổi số, góp phần vào mô hình phát triển chung của quốc gia.
Đáng chú ý, Hà Nội đang chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang nâng cao chất lượng, đặc biệt là chất lượng nguồn lao động và ứng dụng khoa học - công nghệ. Đây sẽ là động lực then chốt để phát triển nông nghiệp đô thị trong giai đoạn tới.
Việc phát triển theo hướng bền vững và phát triển xanh mang lại lợi ích cho cộng đồng
Trao đổi về tư duy tăng trưởng mới của Hà Nội, PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu rau quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng: Tư duy cũ là tư duy phát triển mở rộng về đất đai, về diện tích, về năng suất. Hiện nay chúng ta thay đổi tư duy là đổi mới sáng tạo, chuyển đổi áp dụng khoa học công nghệ để đưa ra những sản phẩm chất lượng, giá trị cao hơn, hiệu quả hơn.
Nếu như trước đây chúng ta chỉ phát triển theo bề rộng, ví dụ như cần phải năng suất, chất lượng cao, bây giờ chúng ta thấy, Hà Nội đang định hướng phát triển xanh, bền vững, an toàn, hiệu quả cao.

PGS.TS. Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu rau quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam trao đổi tại chương trình. Ảnh: Phan Anh
PGS.TS Đặng Văn Đông khẳng định, đây là vấn đề quan trọng bởi trong cuộc sống hiện nay phát triển theo hướng bền vững và phát triển xanh, ứng dụng chặt chẽ với khoa học công nghệ, bảo đảm sự bền vững, an toàn, mang lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là sức khỏe con người là tiêu chí hàng đầu.
Phát triển của Hà Nội là trở thành đô thị văn hiến, xanh và đáng sống
Trả lời câu hỏi vì sao trong Nghị quyết về phát triển Thủ đô, câu chuyện tăng trưởng, trong đó có tăng trưởng mới trong lĩnh vực nông nghiệp lại được đặt bằng tư duy mới, từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp đô thị, PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, định hướng phát triển của Hà Nội là trở thành đô thị văn hiến, xanh và đáng sống. Trong tiến trình đó, nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh trong thời gian qua đã khiến không gian xanh của Thủ đô bị thu hẹp đáng kể. Hiện nay, diện tích cây xanh bình quân đầu người của Hà Nội mới đạt khoảng 2m², thấp hơn nhiều so với khuyến nghị của Liên hợp quốc là tối thiểu 10m²/người.

Trồng dưa lưới theo công nghệ cao tại xã Quang Minh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng
Việc tập trung mạnh vào xây dựng đô thị thời gian qua cũng kéo theo nhiều hệ lụy, như: Ô nhiễm môi trường, chất lượng không khí suy giảm, tình trạng úng ngập và áp lực hạ tầng gia tăng. Đây là những thách thức lớn đặt ra đối với Hà Nội trong quá trình phát triển bền vững thời gian tới.
PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh, với quy mô dân số khoảng 10 triệu người và có thể tiếp tục tăng trong tương lai, Hà Nội đang hướng tới mô hình siêu đô thị. Do đó, bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm là yêu cầu cấp thiết. Thành phố Hà Nội cần xây dựng các phương án sản xuất và cung ứng theo hướng bền vững, phù hợp với xu thế chung của cả nước trong triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Bên cạnh đó, nhu cầu của người dân ngày càng cao, không chỉ dừng ở số lượng mà còn chú trọng đến chất lượng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Đây là yếu tố trực tiếp tác động đến sức khỏe con người - trung tâm của phát triển bền vững.
Trong thời gian tới, nông nghiệp Hà Nội trước hết cần phục vụ hiệu quả nhu cầu của khoảng 10 triệu dân đô thị. Khi người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm chất lượng, giá trị gia tăng của nông sản, thực phẩm sẽ được nâng cao, từ đó góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất.
Ngoài chức năng cung cấp lương thực, thực phẩm, nông nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng không gian xanh, cải thiện môi trường, tạo việc làm và góp phần ổn định xã hội. Vì vậy, theo PGS.TS Đào Thế Anh, cần nhìn nhận nông nghiệp Hà Nội dưới góc độ đa chức năng để từ đó có những chính sách phát triển phù hợp, hiệu quả và bền vững trong giai đoạn tới.

PGS.TS Đặng Văn Đông trao đổi tại chương trình. Ảnh: Phan Anh
Còn theo PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu rau quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, sản xuất nông nghiệp đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, nông nghiệp hiện nay không thể chỉ dừng lại ở mục tiêu tạo ra sản lượng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mà quan trọng hơn là phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và tính bền vững.
Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp nếu không bảo đảm các yếu tố này sẽ khó nâng cao chất lượng cuộc sống. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải phát triển nông nghiệp theo hướng thông minh, xanh, có khả năng kết nối chuỗi và giảm phát thải. Đây là những bài toán lớn trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt trong điều kiện đô thị hóa như Hà Nội.
Từ những yêu cầu thực tiễn đó, thành phố Hà Nội đã ban hành các quyết định, chính sách phù hợp nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn, hướng tới khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong sản xuất nông nghiệp.
Liên quan đến việc thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 1193 với các định hướng lớn cho giai đoạn 2026-2030, điều này cho thấy sự chuyển biến rõ nét từ tư duy sang hành động. Nếu như trước đây, các nghị quyết chủ yếu mang tính định hướng, tuyên truyền thì nay đã được cụ thể hóa bằng những cơ chế, chính sách thiết thực. Đặc biệt, sau khi có các nghị quyết của Trung ương về phát triển nông nghiệp Thủ đô, Hà Nội đã nhanh chóng ban hành quy định cụ thể để triển khai, thể hiện quyết tâm đưa chủ trương vào cuộc sống.
Nông nghiệp Hà Nội chuyển mình theo hướng công nghệ cao, đa giá trị
Theo PGS.TS Đặng Văn Đông, thời gian qua, ngành Nông nghiệp Hà Nội đã phối hợp với các sở, ngành triển khai nhiều mô hình sản xuất có hàm lượng công nghệ cao, phù hợp với đặc thù nông nghiệp đô thị.

PGS.TS Đặng Văn Đông chia sẻ. Ảnh: Phan Anh
Thứ nhất là nhóm mô hình ứng dụng công nghệ cao. Có thể kể đến các mô hình trồng hoa tại Thụy Hương hay mô hình của Công ty Toàn Cầu. Các mô hình này sử dụng hệ thống nhà kính, tự động điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, giúp cây trồng sinh trưởng ổn định, cho sản phẩm đồng đều, chất lượng cao.
Đáng chú ý, công nghệ đã tiệm cận trình độ của các nước trong khu vực, thậm chí đạt mức hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai là các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị. Hà Nội đã hình thành nhiều liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ đối với các sản phẩm chủ lực như bưởi, cam, rau an toàn. Những mô hình này gắn kết chặt chẽ giữa người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm và bảo đảm đầu ra ổn định.
Thứ ba là mô hình nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ. Dù mới được triển khai nhưng đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh ô nhiễm môi trường gia tăng. Việc tận dụng phụ phẩm chăn nuôi, trồng trọt để tái sử dụng giúp giảm chất thải, đồng thời tạo ra sản phẩm an toàn. Một số mô hình kết hợp như trồng sen với nuôi thủy sản đã bước đầu cho thấy hiệu quả theo hướng tuần hoàn sinh thái.
Ngoài ra, Hà Nội cũng phát triển các mô hình nông nghiệp đa giá trị gắn với du lịch trải nghiệm. Một số khu sản xuất hoa, cây cảnh kết hợp đón khách tham quan, check-in, trải nghiệm và giáo dục thực tế cho học sinh, qua đó gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị sản xuất.
Thời gian tới, theo định hướng tại Quyết định số 1193, Hà Nội tiếp tục nhân rộng các mô hình này theo hướng quy mô lớn hơn, liên kết chặt chẽ hơn, nhằm phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, bền vững. Đây cũng là xu hướng phù hợp với các đô thị tiên tiến trên thế giới.
Tư duy xây dựng nghị quyết đã có sự thay đổi rõ rệt
PGS.TS Đặng Văn Đông bày tỏ vui mừng khi nhận thấy tư duy xây dựng nghị quyết hiện đã có sự thay đổi rõ rệt. Ông cho biết, nếu trước đây, nhiều nghị quyết chủ yếu mang tính hành chính hoặc tuyên truyền, thì nay, sau khi có Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị về phát triển nông nghiệp Thủ đô, Hà Nội đã kịp thời ban hành Quyết định số 1193, trong đó đặt ra “bài toán lớn” cùng 4 nhóm giải pháp lớn nhằm giải quyết những vấn đề mang tính tổng hợp, liên ngành.

PGS.TS Đặng Văn Đông. Ảnh: Phan Anh
Theo PGS.TS Đặng Văn Đông, trước đây, việc giải quyết các vấn đề trong nông nghiệp thường mang tính đơn lẻ, phạm vi chủ yếu trong nội bộ ngành. Các cơ quan chuyên môn về nông nghiệp chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ nghiên cứu, lựa chọn giống cây trồng có năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, cách tiếp cận đó chưa đủ, bởi sản xuất nông nghiệp còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như môi trường, an toàn thực phẩm, hệ thống logistics và nhiều vấn đề khác có tác động trực tiếp đến đời sống.
PGS.TS Đặng Văn Đông cho rằng: Việc đặt ra các “bài toán lớn” với cách tiếp cận tổng hợp, có sự tham gia của nhiều ngành khoa học sẽ góp phần giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong thực tiễn cuộc sống, trong đó có các vấn đề Thủ đô đang phải đối mặt.
Quyết định số 1193 được ban hành sớm, kịp thời và kỳ vọng sẽ tạo cơ sở để giải quyết hiệu quả những vấn đề tồn tại, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Hợp tác xã nông nghiệp cần chuyển đổi tư duy để trở thành chủ thể kinh tế mạnh
Về vai trò và định hướng phát triển của hợp tác xã (HTX) trong giai đoạn mới, PGS.TS Đặng Văn Đông, cho biết: Hà Nội hiện có hơn 1.000 HTX nông nghiệp, giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức lại sản xuất. Tuy nhiên, để trở thành chủ thể kinh tế mạnh trong chuỗi giá trị, các HTX cần có sự chuyển đổi căn bản về tư duy và cách thức hoạt động.

PGS.TS Đặng Văn Đông chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phan Anh
Trước hết, HTX phải chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh doanh. Không dừng lại ở việc cung cấp giống hay tổ chức sản xuất, HTX cần tham gia sâu vào việc tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm, từ xây dựng thương hiệu đến tổ chức tiêu thụ. Việc chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang quy mô lớn là yêu cầu tất yếu để tạo ra sản lượng hàng hóa đủ lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, các HTX cần định hướng phát triển những mặt hàng chủ lực, gắn với xây dựng thương hiệu và bảo đảm truy xuất nguồn gốc. Đây là yếu tố then chốt giúp sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường. Đồng thời, tư duy sản xuất cũng cần chuyển từ đơn giá trị sang đa giá trị. Ví dụ, một sản phẩm rau không đơn thuần là nông sản mà cần được phát triển thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh, kết hợp sản xuất, chế biến, phân phối và thậm chí cả dịch vụ trải nghiệm.

Trang trại trồng hoa tại xã Mê Linh, Hà Nội. Ảnh Phạm Hùng
Một điểm yếu của HTX hiện nay là năng lực quản trị. Do đó, cần có sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác quản lý, điều hành. Đội ngũ lãnh đạo HTX cần được đào tạo bài bản, tiếp cận các kỹ năng quản trị hiện đại như vận hành doanh nghiệp, truy xuất nguồn gốc, logistics, thậm chí là ngoại ngữ để hội nhập thị trường. Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ này.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, nếu vẫn duy trì phương thức hoạt động cũ, HTX sẽ khó tồn tại và phát triển. Ngược lại, khi chuyển đổi thành công, HTX sẽ trở thành chủ thể trung tâm, đóng vai trò dẫn dắt, tập hợp xã viên, tổ chức sản xuất hiệu quả và tạo ra giá trị bền vững cho ngành Nông nghiệp Hà Nội.
Một đơn vị đất, nhiều tầng giá trị: Hướng đi mới của nông nghiệp Hà Nội
Theo PGS.TS Đặng Văn Đông, mặc dù tăng trưởng ngành chỉ khoảng hơn 3%/năm nhưng giá trị sản xuất và xuất khẩu vẫn tăng, cho thấy xu hướng chuyển mạnh sang nâng cao giá trị.
PGS.TS Đặng Văn Đông cho rằng, trong tư duy mới, giá trị của nông nghiệp Hà Nội không chỉ là sản lượng mà cả những yêu cầu khác. Thời gian qua, Viện Nghiên cứu rau quả đã gắn bó chặt chẽ với ngành Nông nghiệp Hà Nội, đồng thời phối hợp cùng các sở, ngành xây dựng nhiều mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mang đậm đặc trưng của nông nghiệp đô thị.

Có thể kể đến các mô hình trồng hoa lan tại các xã: Đan Phượng, Liên Minh, Thụy Hương… Những mô hình này áp dụng công nghệ tiên tiến trong điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, qua đó tạo ra sản phẩm chất lượng cao, tiệm cận trình độ các nước phát triển trên thế giới.
Bên cạnh đó, các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị cũng được triển khai hiệu quả, với nhiều liên kết trong sản xuất bưởi, cam và rau giữa người dân với thị trường. Đáng chú ý là sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà khoa học và nông dân trong quá trình tổ chức sản xuất. Thời gian tới, Hà Nội cần tiếp tục nhân rộng và nâng cao chất lượng các mô hình này.
Ngoài ra, mô hình sản xuất xanh, hữu cơ, tuần hoàn đang cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội trong bối cảnh ô nhiễm môi trường gia tăng. Không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn, các mô hình này còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm, tận dụng hiệu quả phụ phẩm. Chẳng hạn, chất thải từ chăn nuôi có thể sử dụng cho trồng trọt; mô hình trồng sen kết hợp nuôi cá theo hướng tuần hoàn cũng mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

Trồng hoa lan công nghệ cao tại xã Mê Linh, Hà Nội. Ảnh Phạm Hùng
Cùng với đó, các mô hình nông nghiệp đa giá trị gắn với du lịch trải nghiệm tại Hà Nội đã bước đầu đạt thành công. Viện đã giúp đỡ xã Phúc Thọ xây dựng mô hình du lịch trải nghiệm tại xã Tích Giang, giúp người dân phát triển trồng hoa, đồng thời thu hút du khách và học sinh tham quan, học tập.
Thời gian tới, theo Quyết định số 1193, Hà Nội tiếp tục định hướng phát triển các mô hình nông nghiệp ở quy mô lớn hơn, trình độ cao hơn và liên kết chặt chẽ hơn, phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, điều này đã được nhiều đô thị tiên tiến trên thế giới triển khai hiệu quả.
Xây dựng "ngân hàng đất” cho nông nghiệp nội đô Hà Nội
PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam, cho biết: Nước ta là nước xuất khẩu nông nghiệp nhưng thực tế đất nông nghiệp tính trên đầu người hay đầu lao động lại rất ít. Riêng ở Hà Nội, đất lại càng hiếm hơn. Chuyện đô thị hóa và mở rộng không gian thành phố là tất yếu, kéo theo diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp lại, đó là điều khó tránh khỏi.

PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển Nông thôn Việt Nam chia sẻ. Ảnh: Phan Anh
Tuy nhiên, như đã phân tích, Hà Nội vẫn rất cần nông nghiệp và những khoảng không gian xanh. Thành phố không thể chỉ toàn bê tông, mà phải duy trì một tỉ lệ xanh nhất định.
Vì thế, PGS.TS. Đào Thế Anh cho rằng, vấn đề quy hoạch lúc này là rất quan trọng.
Theo PGS.TS. Đào Thế Anh, trong quy hoạch, chúng ta cần làm rõ hai điểm chính: Thứ nhất là về thu hút đầu tư. Để kéo được nguồn vốn lớn và hàm lượng chất xám cao vào nông nghiệp, mọi thứ phải ổn định. Cần quy hoạch rõ ràng đâu là vùng nông nghiệp sinh thái, đâu là vùng sản xuất để bảo đảm an ninh đất đai cho nhà đầu tư yên tâm.
Thứ hai là về hiệu quả sử dụng đất. Hiện nay, có thực trạng đất đã giao cho hộ dân nhưng nhiều nơi chưa được khai thác hiệu quả do vướng mắc trong việc chuyển đổi hay cho mượn. Người dân có tâm lý muốn giữ đất, trong khi doanh nghiệp muốn làm nông nghiệp quy mô lại không tiếp cận được.
Giải pháp ở đây là cần có những "ngân hàng đất" với cơ chế mềm dẻo, cho phép mượn hoặc khai thác ngắn hạn. Ngay cả ở các nước phát triển, nông nghiệp không chỉ ở ngoại ô mà còn ở ngay trong nội đô. Chúng ta có thể tận dụng những khoảng trống trong thành phố, hay những dự án treo nhiều năm chưa xây dựng để làm nông nghiệp tạm thời. Việc này không chỉ cung cấp thực phẩm mà quan trọng hơn là tạo ra không gian xanh và tăng tỉ lệ che phủ cho đô thị.
Ngoài ra, các khu vực bãi ven sông Hồng và hệ thống sông của Hà Nội cũng là những địa điểm rất tiềm năng để làm nông nghiệp ngắn hạn. Rất mừng là Nghị quyết số 02-NQ/TW đã mở đường cho Hà Nội thử nghiệm những cơ chế sử dụng đất linh hoạt hơn so với Luật Đất đai chung.
PGS.TS. Đào Thế Anh nhấn mạnh: "Tôi tin rằng nếu tận dụng tốt những cơ chế thử nghiệm này, Hà Nội sẽ có lợi thế rất lớn trong phát triển bền vững".
Giảm diện tích đất nông nghiệp: Thách thức đi cùng cơ hội
PGS.TS Đặng Văn Đông nhấn mạnh, diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội giảm là một thách thức, nhưng đó cũng là một cơ hội. Ở nhiều nơi, bài học kinh nghiệm cho thấy, khi đất nông nghiệp giảm tư duy sẽ thay đổi, đó là tăng giá trị trên mỗi đơn vị diện tích.

PGS.TS Đặng Văn Đông trao đổi tại chương trình. Ảnh: Phan Anh
Thứ hai là ứng dụng các kỹ thuật công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đô thị.
Thứ ba là chuyển từ canh tác truyền thống sang canh tác đa giá trị, chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Khi đó, hiệu quả sử dụng đất sẽ rất cao, không cần nhiều đất mà vẫn đạt hiệu quả tốt, vừa bảo đảm môi trường, vừa mang lại hiệu quả kinh tế.
Theo PGS. TS Đặng Văn Đông, bài học cho thấy một số nơi đã rất thành công, điển hình như ở Xuân Quan (Hưng Yên). Khi đất dành cho đô thị hóa tăng lên, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp lại chỉ còn khoảng 30% so với trước đây, người dân rất lo lắng, nhưng chúng tôi đã định hướng, hỗ trợ họ. Đến nay, trên diện tích đất chỉ còn 30%, giá trị sản lượng đã tăng lên khoảng 20-30 lần. Chính vì vậy, giá trị đất nông nghiệp của người dân cũng tăng cao.
PGS. TS Đặng Văn Đông cho rằng, những người không trực tiếp làm nông nghiệp hoàn toàn có thể chuyển nhượng, cho mượn hoặc cho thuê đất. Như PGS.TS Đào Thế Anh đã nói, sẽ có sự mềm dẻo hơn trong sử dụng đất.
“Quỹ đất tuy ít nhưng nhiều người do điều kiện khác nhau không sử dụng hết. Đất nông nghiệp sẽ được dành cho những người có điều kiện sản xuất, có khả năng đầu tư khoa học - công nghệ để phát triển ở mức cao hơn. Khi đó, cả hai bên đều có lợi và xã hội cũng có lợi”, PGS.TS Đặng Văn Đông nhấn mạnh.
Chuyển mình từ tư duy sản xuất sang kinh tế xanh hiện đại
Trong bối cảnh Hà Nội triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TW và Quyết định số 1193/QĐ-UBND, PGS.TS Đào Thế Anh nhận định, vai trò của hệ thống chính sách và sự gắn kết giữa các cơ quan nghiên cứu với thực thể sản xuất là yếu tố then chốt.

Các khách mời tại chương trình. Ảnh: Phan Anh
Theo PGS.TS Đào Thế Anh, các mối liên kết này cần được nâng tầm thành hệ sinh thái chặt chẽ nhằm tháo gỡ những "điểm nghẽn" về cơ chế và vốn đầu tư. Một trong những trọng tâm mới mà nông nghiệp Thủ đô không thể bỏ qua là cam kết Net Zero vào năm 2050, bởi hiện nay, lĩnh vực này đang đóng góp tới 35% lượng phát thải khí nhà kính.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh, việc ưu tiên các giải pháp công nghệ xanh, điển hình như mô hình màng phủ nhà kính công nghệ Nhật Bản giúp giảm nhiệt độ canh tác tới 10°C và giảm thiểu hiệu ứng nhà kính. Bên cạnh đó, PGS.TS Đào Thế Anh cho rằng, Hà Nội cần tận dụng tối đa nguồn "chất xám" dồi dào tại địa phương để đẩy mạnh khuyến nông số và truy xuất nguồn gốc.
Cuối cùng, việc thúc đẩy nhận thức và "đào tạo xanh" cho người tiêu dùng sẽ tạo ra áp lực tích cực, buộc nông dân phải chủ động thay đổi tư duy sản xuất để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thị trường hiện đại.
Còn theo PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu rau quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp xanh, Hà Nội cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề mang tính nền tảng.
Trước hết là hạ tầng và không gian đầu tư, đặc biệt là vấn đề đất đai. Nông nghiệp muốn phát triển quy mô lớn rất cần quỹ đất ổn định, trong khi hiện nay đất phần lớn đã được giao cho các hộ dân nhỏ lẻ. Nhiều hộ không còn nhu cầu sản xuất nhưng vẫn giữ đất, gây khó khăn cho việc tích tụ và thu hút doanh nghiệp. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ tiếp cận đất đai thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng logistics và dữ liệu cũng cần được cải thiện. Doanh nghiệp không thể tự đầu tư toàn bộ hạ tầng, nên rất cần sự hỗ trợ từ nhà nước, đặc biệt là xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch về đất đai, vùng sản xuất, nguồn cung đầu vào… giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin và triển khai đầu tư hiệu quả.
Một yếu tố quan trọng khác là chính sách tài chính. Đầu tư vào nông nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi hiện nay các mô hình như nhà lưới, nhà kính vẫn chưa có cơ chế tín dụng phù hợp. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ vốn, tín dụng ưu đãi để giảm áp lực cho doanh nghiệp khi tham gia lĩnh vực này.
Theo PGS.TS. Đặng Văn Đông, những vướng mắc hiện nay chủ yếu nằm ở thể chế, nguồn vốn và liên kết. Nếu các “nút thắt” này được tháo gỡ theo các định hướng lớn đã đặt ra, nông nghiệp Hà Nội sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ theo hướng an toàn, hiện đại, bền vững, đồng thời tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân.
Bài toán điều phối thị trường, chất lượng và an toàn thực phẩm ở quy mô lớn
Thực tế Hà Nội đã có gần 1.000 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn và liên kết với 43 tỉnh, thành phố, điều đó cho thấy nông nghiệp Hà Nội không còn là câu chuyện sản xuất trong phạm vi địa giới hành chính mà đã là bài toán điều phối thị trường, chất lượng và an toàn thực phẩm ở quy mô lớn.
Theo PGS.TS. Đặng Văn Đông, trong thời đại chuyển đổi số hiện nay, Hội Khoa học Phát triển nông thôn đang đi đầu trong việc xây dựng các mạng lưới nông nghiệp sinh thái, thu hút sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và những nông dân tiên tiến. Thông qua đó, kinh nghiệm hay được chia sẻ rộng rãi, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động trao đổi, đào tạo thiết thực.

Chúng tôi cho rằng đây là nhiệm vụ rất quan trọng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, vai trò của công nghệ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết, nông dân không thể đứng ngoài xu thế này nếu không muốn bị tụt lại phía sau. Do đó, cần chủ động học tập, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, sử dụng các thiết bị số đơn giản phục vụ sản xuất, khuyến nông, truy xuất nguồn gốc sản phẩm… Những yêu cầu trên đòi hỏi hệ thống đào tạo, tập huấn phải đa dạng, linh hoạt.
Chúng tôi kỳ vọng Hà Nội tiếp tục cải cách hệ thống dịch vụ nông nghiệp, từ khuyến nông, cung ứng giống đến các dịch vụ tổng hợp, giúp người dân tiếp cận dễ dàng hơn, với nhiều hình thức phù hợp.
Bên cạnh đó, nhận thức và lực lượng lao động nông nghiệp đang có sự chuyển biến rõ nét. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Chương trình xây dựng nông thôn mới đều chú trọng hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp. Nghề nông ngày nay cần được nhìn nhận như một nghề chính thức trong xã hội, đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và tính chuyên nghiệp, thay vì chỉ mang tính tự phát như trước.
Thực tiễn cho thấy, sản xuất nông nghiệp hiện đại không chỉ cần kỹ thuật mà còn đòi hỏi tính toán hiệu quả đầu tư, hiểu rõ các yêu cầu về môi trường, phát thải khí nhà kính, cũng như tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Đây là những yếu tố then chốt để phát triển bền vững.
Vì vậy, ưu tiên hàng đầu vẫn là đào tạo và tham gia đào tạo. Tuy nhiên, do điều kiện thực tế, nông dân khó có thể học tập theo hình thức chính quy nên việc kết nối với mạng lưới nhà khoa học, hệ thống khuyến nông là rất cần thiết. Các dịch vụ nông nghiệp của Hà Nội cũng cần đổi mới để tiếp cận người dân hiệu quả hơn.
Hiện nay, mô hình khuyến nông cộng đồng đang được khuyến khích, theo hướng “nông dân học nông dân”, học từ các mô hình hiệu quả ngay tại địa phương. Đồng thời, việc tăng cường liên kết với doanh nghiệp, thị trường và chuỗi giá trị sẽ giúp người sản xuất nắm bắt nhu cầu, tiêu chuẩn tiêu dùng, đặc biệt là các yêu cầu về an toàn thực phẩm, qua đó gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất và thị trường.
Tăng cường niềm tin của người tiêu dùng
Thực tế cho thấy, Hà Nội đã hình thành hơn 149 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, hơn 13.000 sản phẩm có mã QR truy xuất nguồn gốc và hàng trăm mô hình nông nghiệp công nghệ cao.
Tuy nhiên, để chuyển từ các mô hình điểm sang sản xuất quy mô lớn, vai trò của doanh nghiệp rất quan trọng.

PGS.TS Đặng Văn Đông trao đổi tại chương trình. Ảnh: Phan Anh
Theo tôi, yếu tố quan trọng nhất hiện nay là tăng cường niềm tin của người tiêu dùng, đặc biệt thông qua việc kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm và chất lượng dinh dưỡng.
Thực tế, một bộ phận người tiêu dùng Hà Nội vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào sản phẩm nông sản trên thị trường. Đây chính là rào cản lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến động lực đầu tư của doanh nghiệp. Do đó, việc phát triển các chuỗi liên kết không chỉ là nỗ lực riêng của nông dân hay doanh nghiệp, mà cần có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, hợp tác xã và cả người tiêu dùng.
Hà Nội có lợi thế rất lớn khi vùng sản xuất nằm gần khu vực đô thị. Điều này cho phép phát triển các chuỗi giá trị ngắn - mô hình đang được nhiều thành phố trên thế giới thúc đẩy. Với chuỗi ngắn, số khâu trung gian giảm, mối liên kết chặt chẽ hơn, từ đó giúp kiểm soát chất lượng tốt hơn và nâng cao hiệu quả kinh tế. Ví dụ, chỉ cần một hợp tác xã liên kết trực tiếp với một doanh nghiệp phân phối là đã có thể hình thành một chuỗi cung ứng hiệu quả.
Bên cạnh đó, một yếu tố then chốt là chuyển đổi số. Hà Nội cần xây dựng các nền tảng số để: Truy xuất nguồn gốc minh bạch; kết nối doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân; cung cấp thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng. Khi thông tin minh bạch, niềm tin thị trường được củng cố, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư hơn.
Ngoài ra, vai trò của người tiêu dùng cũng rất quan trọng. Cần có những thông điệp rõ ràng về nhu cầu sử dụng sản phẩm an toàn, dinh dưỡng, từ đó tạo áp lực tích cực lên thị trường.
Ở nhiều nước, người tiêu dùng thậm chí có thể trực tiếp tham quan vùng sản xuất, kiểm chứng quy trình. Đây cũng là hướng Hà Nội có thể nghiên cứu áp dụng.
Hiện nay, Hà Nội đã có thể tự cung ứng khoảng 60% nhu cầu thực phẩm cho đô thị, đây là nền tảng rất tốt. Tuy nhiên, để nâng cao giá trị và mở rộng quy mô, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, minh bạch hóa thông tin và củng cố niềm tin thị trường sẽ là yếu tố quyết định. Các tổ chức khoa học, trong đó có chúng tôi, cũng sẵn sàng phối hợp với thành phố để huy động nguồn lực công nghệ và chuyên gia, góp phần thúc đẩy quá trình này.
Đối với khu vực nội đô, quỹ đất dành cho nông nghiệp rất hạn chế. Tuy nhiên, vẫn có thể khai thác linh hoạt các không gian hiện có. Với những khu đất thuộc các dự án chưa triển khai, thậm chí bị bỏ hoang trong nhiều năm, có thể nghiên cứu cho phép người dân sử dụng tạm thời để phát triển nông nghiệp đô thị. Điều này không chỉ góp phần cung ứng thực phẩm, mà còn tạo ra không gian xanh, nâng tỷ lệ che phủ và cải thiện môi trường sống trong đô thị.
Tương tự, các khu vực đất bãi ven sông, như dọc sông Hồng và hệ thống sông của Hà Nội cũng là những không gian tiềm năng để phát triển các mô hình nông nghiệp ngắn hạn.
Vì vậy, cần có cơ chế linh hoạt hơn trong sử dụng đất, cho phép “mượn” hoặc khai thác tạm thời các quỹ đất này. Tinh thần đó cũng đã được đề cập trong các chủ trương mới, cho phép Hà Nội thí điểm cơ chế sử dụng đất mềm dẻo hơn, phù hợp với thực tiễn.
Thực tế, việc diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp không chỉ là thách thức, mà còn là cơ hội để thay đổi tư duy phát triển. Thay vì mở rộng diện tích, cần tập trung tăng giá trị trên một đơn vị diện tích đất; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất; chuyển từ canh tác truyền thống sang mô hình đa giá trị.
Khi chuyển sang tư duy kinh tế nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất sẽ cao hơn rất nhiều, vừa bảo đảm yếu tố môi trường, vừa nâng cao giá trị kinh tế.
Thực tiễn, nhiều địa phương đã thành công với cách tiếp cận này. Khi diện tích đất nông nghiệp giảm xuống, họ tập trung đầu tư chiều sâu, nhờ đó giá trị sản xuất có thể tăng gấp nhiều lần.
Ngay cả khi chỉ còn khoảng 30% quỹ đất nông nghiệp, nhưng nhờ ứng dụng công nghệ và tổ chức sản xuất hiệu quả, giá trị tạo ra vẫn tăng mạnh, thậm chí gấp 20-30 lần so với trước. Điều này cũng kéo theo giá trị đất nông nghiệp tăng lên.
Những người không trực tiếp sản xuất vẫn có thể cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tạo thêm nguồn thu nhập. Trong khi đó, những người có năng lực sản xuất sẽ có điều kiện tập trung đất đai để đầu tư quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ. Đây là hướng đi mang lại lợi ích kép: Người dân có thu nhập tốt hơn, doanh nghiệp có điều kiện đầu tư, toàn xã hội được hưởng lợi từ nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững hơn…
Hợp tác liên ngành: Động lực phát triển nông nghiệp đa giá trị
Trong rất nhiều giải pháp, theo hai vị khách mời thì đột phá quan trọng nhất Hà Nội cần ưu tiên trong 3-5 năm tới là việc thực thi thể chế, đây là vấn đề quan trọng nhất.
“Những vướng mắc mà tôi nêu ra chủ yếu đều xuất phát từ chính sách và thể chế. Ví dụ như: Đất đai, hạ tầng, vốn, liên kết ở đâu - tất cả đều liên quan đến thể chế. Vì vậy, nếu trong thời gian tới có thể tháo gỡ được những vấn đề về thể chế, đặc biệt là Quyết định 1193 đã nêu ra những bài toán lớn và tháo gỡ được nhiều nút thắt thì tôi tin rằng nông nghiệp Hà Nội sẽ phát triển bền vững như mong muốn mà Nghị quyết 02 đã đề ra”, PGS.TS Đặng Văn Đông khẳng định.
Còn PGS.TS Đào Thế Anh cho rằng, hiện nay khu vực tư nhân của Hà Nội rất năng động nhưng trong giai đoạn vừa qua vẫn bị bó do một số vướng mắc về chính sách cũng như thể chế.
Theo PGS.TS Đào Thế Anh, vai trò của thể chế rất quan trọng trong cách tiếp cận 30 bài toán lớn hiện nay.
“Chúng tôi nhận thấy có tư duy mang tính phát triển và tác động thực sự, tức là có sự hợp tác liên ngành. Bởi vì trong quá trình phát triển hiện nay, chúng ta thấy hợp tác liên ngành rất quan trọng, dưới sự điều hành chung của Thành ủy, UBND thành phố”, PGS.TS Đào Thế Anh nói.
Như vậy, ngành Nông nghiệp hiện nay có sự hợp tác bao trùm như sự hiện diện của ngành Công thương; ngành Y tế liên quan đến an ninh, an toàn thực phẩm và dinh dưỡng; ngành Giáo dục thúc đẩy người tiêu dùng thay đổi nhận thức; truyền thông thay đổi nhận thức.
Theo PGS.TS Đào Thế Anh, sự hợp tác liên ngành giúp tạo ra một nền nông nghiệp đa giá trị. Bên cạnh đó, ngoài yếu tố các sản phẩm nông sản trực tiếp còn một yếu tố chưa có thời gian đề cập sâu là các làng nghề chế biến cũng rất phong phú, có thể tập hợp lại thành những giá trị trong tương lai để thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp Thủ đô.













