Phát triển nông nghiệp hữu cơ:Đưa cơ chế, chính sách đi vào thực tiễn

Đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035” được UBND thành phố phê duyệt theo Quyết định số 1169/QĐ-UBND tạo cơ sở pháp lý quan trọng tháo gỡ các điểm nghẽn, hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây) được vinh danh là Làng du lịch tốt nhất năm 2024. Ảnh: HOÀNG LIÊN

Làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây) được vinh danh là Làng du lịch tốt nhất năm 2024. Ảnh: HOÀNG LIÊN

Hướng đi tất yếu

Trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, nền nông nghiệp Đà Nẵng được định hướng phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên từng hecta, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, du lịch và kinh tế xanh.

Thời gian qua, nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn trên địa bàn giúp nông dân tăng thu nhập, giảm chi phí sản xuất, đồng thời tạo cảnh quan phục vụ du lịch sinh thái. Trong khi một số nhà vườn, trang trại lựa chọn sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap thì nhiều nông trại lớn vẫn kiên định với hướng đi hữu cơ như Công ty TNHH Thực phẩm Noom, An Phu Farm, Hợp tác xã Nông Trại Xanh… và đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường.

Nhận định về nền nông nghiệp hữu cơ của thành phố, ông Nguyễn Đình Vương, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Khuyến nông cho rằng các mô hình nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn kết hợp du lịch là hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế của Đà Nẵng.

Những mô hình này không chỉ tạo nguồn thu từ nông sản mà còn mở rộng sang các hoạt động trải nghiệm, giáo dục ngoại khóa, lưu trú, ẩm thực và du lịch cộng đồng, qua đó góp phần bảo vệ môi trường, tạo việc làm tại chỗ và nâng cao nhận thức của cộng đồng về sản xuất, tiêu dùng bền vững.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, ông Nguyễn Đình Vương cũng chỉ ra việc sản xuất hữu cơ vẫn đối mặt với nhiều rào cản: chi phí chứng nhận cao, đất đai manh mún, khó duy trì vùng đệm, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi liên kết, đầu ra không ổn định, hạn chế về nguồn nhân lực trẻ am hiểu công nghệ và kết nối thị trường, cùng tác động ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu.

Các mô hình sản xuất hữu cơ hiện chỉ dừng lại ở quy mô điểm, chưa hình thành được vùng sản xuất tập trung hay chuỗi giá trị đủ sức cạnh tranh trên thị trường lớn.

Để thúc đẩy sản xuất theo hướng sinh thái, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường) đã xây dựng kế hoạch triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) trên nhóm cây trồng chủ lực như lúa, ngô, lạc, rau, cây ăn quả và cây dược liệu.

Kế hoạch cũng tập trung đẩy mạnh đào tạo, tập huấn về IPHM cho cán bộ và nông dân; xây dựng thêm các mô hình trình diễn; quy hoạch vùng sản xuất tập trung; hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích ứng dụng rộng rãi các phương thức sản xuất xanh.

Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường nhận định, nông nghiệp hữu cơ của thành phố đã có những mô hình bước đầu cho thấy tiềm năng, nhưng để chuyển từ mô hình đơn lẻ sang sản xuất hàng hóa ổn định vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

“Điểm nghẽn” không chỉ nằm ở kỹ thuật mà còn ở quy mô sản xuất nhỏ, chi phí chuyển đổi và chứng nhận, năng lực tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi và đặc biệt là thị trường tiêu thụ. “Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ đã được thành phố phê duyệt chính là cơ sở quan trọng để chuyển từ cách làm riêng lẻ sang cách tiếp cận đồng bộ, có mục tiêu, lộ trình và phân công trách nhiệm rõ hơn”, bà Hậu nói.

Đàn gà được nuôi bằng sâu canxi và phụ phẩm nông nghiệp tại nông trại Lò Gạch Cũ (xã Nam Phước). Ảnh: HOÀNG LIÊN

Đàn gà được nuôi bằng sâu canxi và phụ phẩm nông nghiệp tại nông trại Lò Gạch Cũ (xã Nam Phước). Ảnh: HOÀNG LIÊN

Tháo gỡ những điểm nghẽn

Thay vì hỗ trợ dàn trải, đề án lựa chọn cách tiếp cận theo chuỗi giá trị, tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn cản trở quá trình chuyển đổi trong lĩnh vực trồng trọt.

Cụ thể, đề án sẽ giải quyết tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán bằng cách khuyến khích hình thành các vùng sản xuất hữu cơ tập trung đối với lúa, rau màu, cây ăn quả và cây công nghiệp theo quy hoạch, đồng thời ưu tiên những vùng đã sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để rút ngắn lộ trình chuyển đổi.

Đề án cũng sẽ dành nguồn lực đầu tư đồng bộ cho giao thông nội đồng, thủy lợi, hệ thống tưới tiết kiệm, điện, nhà màng, cơ giới hóa và vùng đệm cách ly ô nhiễm.

Cùng với đó, đề án tập trung giải quyết bài toán thiếu liên kết thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn về chi phí chuyển đổi, chứng nhận hữu cơ. Một cơ chế đồng bộ từ quy hoạch, hạ tầng, khoa học - công nghệ, liên kết thị trường đến chính sách hỗ trợ sẽ được xây dựng, hướng tới phát triển các vùng sản xuất quy mô lớn, hình thành chuỗi giá trị và từng bước xây dựng thương hiệu “Nông nghiệp hữu cơ Đà Nẵng”.

Bà Vũ Thị Bích Hậu cho biết, đề án chú trọng việc từng bước xử lý những khâu đang cản trở sự phát triển và nhân rộng các mô hình hiệu quả.

Theo đó, việc triển khai sẽ tập trung xác định vùng và sản phẩm có lợi thế, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, nâng cao năng lực người sản xuất, thúc đẩy chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức liên kết và mở rộng thị trường. Nhà nước sẽ đóng vai trò tháo gỡ các điểm nghẽn thuộc phạm vi quản lý, tạo điều kiện cần thiết để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân chủ động đầu tư, liên kết phát triển sản xuất.

“Quan điểm xuyên suốt là không phát triển nông nghiệp hữu cơ theo phong trào, không chạy theo diện tích và không tách sản xuất khỏi thị trường. Một mô hình có cơ sở để nhân rộng khi đồng thời đáp ứng được yêu cầu về điều kiện sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Đề án được xác định là công cụ tổ chức thực hiện và tạo lực đẩy, chứ không phải cơ chế làm thay người sản xuất hay làm thay thị trường. Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu mô hình hữu cơ, mà là bao nhiêu mô hình có thể đứng vững trên thị trường và tạo được giá trị thực sự cho người sản xuất”, bà Vũ Thị Bích Hậu cho hay.

Mục tiêu của đề án là đến năm 2030 phát triển 5-7 sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chủ lực và nâng lên ít nhất 10 sản phẩm vào năm 2035, từng bước hình thành thương hiệu “Nông nghiệp hữu cơ Đà Nẵng”. Đến năm 2030, diện tích đất nông nghiệp hữu cơ dự kiến đạt khoảng 2.485ha và tăng lên 2.554,5ha vào năm 2035. Tổng vốn huy động cho đề án là 500 tỷ đồng, trong đó 150 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước (30%) và 350 tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa (70%).

HOÀNG LIÊN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/phat-trien-nong-nghiep-huu-co-dua-co-che-chinh-sach-di-vao-thuc-tien-3350404.html