Phim ngắn phủ sóng mạng xã hội: Đăng thế nào cho đúng luật?

Sự phát triển của công nghệ AI đang mở ra cách thức mới để sản xuất và phổ biến phim ngắn, đồng thời đưa loại nội dung này đến gần hơn với người dùng mạng xã hội. Tuy nhiên, từ việc phân loại, hiển thị cảnh báo, bảo vệ trẻ em đến minh bạch về nội dung do AI tạo ra, hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng phải đáp ứng quy định pháp luật.

Mới đây, Cục Điện ảnh ban hành văn bản số 1919/ĐA-VP về việc chấp hành quy định về phổ biến phim trên không gian mạng. Theo Cục Điện ảnh, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và các dịch vụ nội dung trực tuyến, hoạt động phổ biến phim trên không gian mạng ngày càng đa dạng về phương thức và gia tăng về số lượng. Trong đó, nhiều sản phẩm được giới thiệu dưới tên gọi “phim ngắn”, cung cấp đến người xem thông qua các nền tảng, ứng dụng và dịch vụ cung cấp nội dung trực tuyến.

Qua công tác quản lý nhà nước về điện ảnh, Cục Điện ảnh nhận thấy một số tổ chức, cá nhân thực hiện phổ biến phim trên không gian mạng nhưng chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện, thủ tục theo quy định của pháp luật về điện ảnh.

Cụ thể, một số chủ thể chưa thực hiện đầy đủ các quy định về chủ thể được phép phổ biến phim trên không gian mạng, điều kiện thực hiện phân loại phim, phân loại và hiển thị kết quả phân loại phim. Bên cạnh đó, việc thông báo danh sách phim và kết quả phân loại phim trước khi phổ biến, cũng như thực hiện các nghĩa vụ khác của chủ thể phổ biến phim trên không gian mạng, còn chưa được thực hiện đầy đủ.

Phim ngắn AI phủ sóng mạng xã hội

Chỉ cần gõ từ khóa “phim ngắn AI” trên mạng xã hội, người dùng có thể nhanh chóng bắt gặp hàng loạt video với đủ thể loại, từ “tổng tài”, “giả khổ để thử lòng” đến “xuyên không”, “trùng sinh”... Các bộ phim liên tục xuất hiện trên bảng tin và thu hút lượt xem, bình luận của người dùng.

Một điểm dễ nhận thấy là phần lớn những nội dung này chưa gắn nhãn để người xem nhận biết sản phẩm được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Bên cạnh những câu chuyện mang màu sắc giải trí, một số phim còn đưa vào các tình tiết bạo lực, nhạy cảm.

Sức hút của dòng nội dung này cũng được thể hiện qua chính trải nghiệm của người xem. Chị Đỗ Diệu Linh (phường Cầu Kiệu, TP.HCM) cho biết ban đầu chỉ xem thử, nhưng càng theo dõi càng bị cuốn vào diễn biến câu chuyện. Dù biết các tình tiết trong phim là hư cấu, chị vẫn bị thu hút bởi cách câu chuyện được đẩy liên tục qua từng tập. Có những hôm, chị mải xem đến quá giờ đi ngủ.

Tương tự, trên mạng xã hội, một số người dùng cũng chia sẻ về cảm giác khó dừng lại khi xem các phim ngắn AI. Trong một clip của TikToker NTC đề cập đến hiện tượng “phim ngắn AI gây nghiện”, phần bình luận ghi nhận nhiều ý kiến đồng tình. Một số người cho biết họ cũng từng bị cuốn theo những nội dung này và dành nhiều thời gian hơn dự định để theo dõi.

Từ một vài video được tạo bằng công nghệ AI, phim ngắn đang dần trở thành một dạng nội dung xuất hiện với tần suất đáng kể trên mạng xã hội. Sự đa dạng về chủ đề cùng cách chia nhỏ nội dung thành nhiều tập khiến người xem dễ tiếp tục theo dõi, trong khi việc nhận diện đây là sản phẩm do AI tạo ra và kiểm soát nội dung vẫn là vấn đề đáng chú ý.

Những tác động phía sau màn hình

ThS Trần Xuân Tiến, giảng viên Trường Đại học Văn Hiến, cho rằng cần tránh cách nhìn mặc định rằng phim ngắn đều là nội dung tiêu cực. Đây vốn là một thể loại giàu tính sáng tạo, có khả năng truyền tải thông tin và tri thức hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phim ngắn trên các nền tảng số đang tác động đáng kể đến cách công chúng tiếp nhận nội dung.

ThS Trần Xuân Tiến, giảng viên Trường Đại học Văn Hiến

ThS Trần Xuân Tiến, giảng viên Trường Đại học Văn Hiến

Theo ThS Tiến, với nhịp dựng dồn dập, xung đột được đẩy lên cao trào chỉ trong vài chục giây đầu, phim ngắn mạng có thể khiến người xem dần quen với sự kích thích tức thì, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tập trung. Khi những câu chuyện được kể theo hướng sơ lược, giật gân và thiếu chiều sâu, người xem cũng dễ hình thành thói quen đơn giản hóa những vấn đề xã hội vốn phức tạp, qua đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận và giải mã các thông điệp nghệ thuật.

“Chúng ta không chỉ đối diện với vấn đề về thẩm mỹ hay thị hiếu, mà còn phải quan tâm đến khả năng đồng cảm và tư duy phản biện của công chúng trước các hiện tượng đời sống” - ThS Tiến nhận định.

Về tác động của phim do AI tạo ra, ThS Tiến cho rằng đáng lo ngại là việc công chúng ngày càng khó phân biệt giữa hình ảnh được kiến tạo và hình ảnh phản ánh một sự kiện có thật. Nếu tiếp nhận hình ảnh do AI tạo ra như sự kiện thực tế, người xem có thể hình thành nhận thức sai lệch về con người, xã hội và các vấn đề đang diễn ra. Ngược lại, việc liên tục tiếp xúc với hình ảnh giả mạo cũng có thể khiến công chúng hoài nghi ngay cả đối với những hình ảnh xác thực.

“AI không chỉ có thể khiến con người tin vào điều không có thật, mà còn có thể khiến họ mất niềm tin vào điều có thật. Khi công chúng không còn biết đâu là hình ảnh đáng tin cậy, môi trường đó dễ bị lợi dụng để lan truyền tin giả hoặc các thuyết âm mưu” - ThS Tiến nói.

Theo ThS Tiến, minh bạch về nguồn gốc hình ảnh vì vậy không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan trực tiếp đến niềm tin xã hội. Công chúng cần được biết mình đang tiếp cận một tác phẩm hư cấu, sản phẩm mô phỏng hay hình ảnh ghi lại một sự kiện thực tế.

Phân loại phim là yêu cầu bắt buộc

Luật sư Đào Thị Bích Liên, Văn phòng Luật sư Hà Hải và Cộng sự, cho biết theo Điều 21 Luật Điện ảnh 2022, được hướng dẫn tại các Điều 12–15 Nghị định 131/2022, việc phổ biến phim trên không gian mạng phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể phổ biến, nội dung phim, phân loại phim và bảo vệ người xem.

Trước hết, chủ thể phổ biến phim phải là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp hoặc tổ chức thực hiện hoạt động phổ biến phim theo quy định của pháp luật. Nội dung phim không được vi phạm các quy định cấm tại Điều 9 Luật Điện ảnh và phải tuân thủ các quy định khác có liên quan, trong đó có pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Luật sư Đào Thị Bích Liên, Văn phòng Luật sư Hà Hải và Cộng sự

Luật sư Đào Thị Bích Liên, Văn phòng Luật sư Hà Hải và Cộng sự

Trước khi phổ biến trên không gian mạng, phim phải được phân loại. Danh sách phim và kết quả phân loại phải được thông báo cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông qua hệ thống dữ liệu về phân loại phim trên không gian mạng. Khi đưa phim đến người xem, mức phân loại và cảnh báo phải được hiển thị theo quy định.

Trong quá trình phổ biến, đơn vị đưa phim lên mạng phải có biện pháp kỹ thuật để cha, mẹ hoặc người giám hộ kiểm soát, quản lý việc trẻ em xem phim phù hợp với độ tuổi. Đồng thời, phải có đầu mối tiếp nhận, xử lý phản ánh của người sử dụng dịch vụ và thực hiện yêu cầu dừng, gỡ bỏ phim vi phạm của cơ quan có thẩm quyền. Trách nhiệm đối với nội dung phim và việc bảo vệ người xem được đặt ra trong suốt quá trình phim được phổ biến.

Đồng thời, yêu cầu phân loại phim là yêu cầu bắt buộc. Theo điểm b khoản 2 Điều 9 và điểm b khoản 2 Điều 21 Luật Điện ảnh 2022, việc phân loại phim trước khi phổ biến trên không gian mạng là yêu cầu bắt buộc, kể cả đối với phim ngắn. Việc phân loại nhằm xác định độ tuổi phù hợp với nội dung phim, đồng thời giúp người xem và cha mẹ, người giám hộ lựa chọn nội dung phù hợp.

Theo Điều 12 Nghị định 131/2022, chủ thể đáp ứng đủ điều kiện có thể tự thực hiện phân loại phim và chịu trách nhiệm về kết quả phân loại. Trường hợp chưa bảo đảm điều kiện thực hiện phân loại thì phải đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan được Bộ ủy quyền thực hiện phân loại đối với phim chưa được cấp Giấy phép phân loại phim hoặc Quyết định phát sóng.

Theo Điều 2, Điều 3 Thông tư 05/2023/TT-BVHTTDL, việc phân loại phim được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí về chủ đề, nội dung, bạo lực, khỏa thân và tình dục, ma túy, chất kích thích, chất gây nghiện, kinh dị, ngôn ngữ thô tục và hành vi nguy hiểm, dễ bắt chước. Các yếu tố này được xem xét trong bối cảnh của bộ phim, cùng cách thể hiện, tần suất, thời lượng và mức độ tác động đến người xem.

Phim được phân thành các mức P, K, T13, T16, T18 và C. Trong đó, P là phim được phép phổ biến đến người xem ở mọi độ tuổi. K là phim được phổ biến đến người xem dưới 13 tuổi với điều kiện xem cùng cha, mẹ hoặc người giám hộ. T13, T16 và T18 lần lượt dành cho người từ đủ 13, 16 và 18 tuổi. Loại C là phim không được phép phổ biến.

Theo Điều 4 Thông tư 05/2023/TT-BVHTTDL, trừ phim loại P, mức phân loại phải được hiển thị rõ ở phần giới thiệu và trên màn hình trong suốt thời gian chiếu. Cảnh báo nội dung cũng phải được thực hiện theo quy định để người xem nhận biết những yếu tố cần lưu ý khi theo dõi phim.

Bên cạnh đó, phim sử dụng AI vẫn phải bảo đảm yêu cầu về minh bạch và phân loại. Theo khoản 3, khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, được hướng dẫn tại Điều 18 Nghị định 142/2026, khi công bố phim có nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa có thể gây nhầm lẫn về tính xác thực của nhân vật, sự kiện, bên triển khai phải thông báo rõ việc sử dụng AI. Với nội dung mô phỏng ngoại hình, giọng nói người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế, phải có nhãn dễ nhận biết để người xem phân biệt với nội dung thật.

Đối với phim, thông báo hoặc nhãn AI có thể đặt ở đầu, cuối phim, phần danh đề hoặc mô tả phim, bảo đảm người xem nhận biết rõ việc sử dụng AI. Nếu chỉ dùng AI để nâng chất lượng hình ảnh, âm thanh mà không thay đổi bản chất hoặc ngữ cảnh chính của nội dung thì không bắt buộc gắn nhãn hiển thị.

Còn với những cảnh bạo lực, tình dục, kinh dị hoặc có thể ảnh hưởng đến trẻ em, Điều 3, Điều 4 Thông tư 05/2023/TT-BVHTTDL vẫn yêu cầu đánh giá để phân loại độ tuổi và cảnh báo phù hợp, dù hình ảnh do AI tạo ra. Việc ghi “phim có sử dụng AI” không thay thế các yêu cầu này.

Hoàng Hải - Thảo Hiền

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/phim-ngan-phu-song-mang-xa-hoi-dang-the-nao-cho-dung-luat.html