Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên: Quy định chặt chẽ điều kiện chỉ định thầu, tránh mở rộng ngoại lệ làm hạn chế cạnh tranh
Thảo luận tại Tổ 13 (Thanh Hóa, Gia Lai) về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị quy định rõ điều kiện, tiêu chí và giới hạn áp dụng chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư, bảo đảm chỉ áp dụng trong những trường hợp thực sự cần thiết, có căn cứ khách quan, tránh làm hạn chế cạnh tranh.
Quy định chặt chẽ điều kiện, phạm vi áp dụng các hình thức lựa chọn không qua cạnh tranh
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên bày tỏ tán thành với sự cần thiết sửa đổi Luật Đấu thầu nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đơn giản hóa thủ tục cho doanh nghiệp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, khơi thông nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, việc sửa đổi luật không chỉ hướng tới cải cách quy trình, cắt giảm thủ tục, rút ngắn thời gian lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư mà quan trọng hơn là hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động đấu thầu theo hướng bảo đảm cạnh tranh thực chất, mở rộng quyền tự chủ gắn với kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền quyết định, nâng cao hiệu quả lựa chọn và thực hiện các gói thầu.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên
Quan tâm đến điều kiện, phạm vi áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư không thông qua cạnh tranh, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, đây là vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với việc hoàn thiện Luật Đấu thầu. Bởi bản chất của đấu thầu là lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thông qua cạnh tranh công bằng, minh bạch nhằm đạt hiệu quả cao nhất về chất lượng, chi phí và tiến độ.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, khoản 6 Điều 19 của dự thảo luật quy định theo hướng mở rộng các trường hợp chỉ định thầu, cho phép áp dụng đối với các gói thầu thuộc lĩnh vực chiến lược hoặc cần đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng, hiệu quả. Tương tự, quy định về lựa chọn nhà đầu tư cho phép chỉ định đối với dự án cần đẩy nhanh tiến độ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, những tiêu chí như “thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”, “đáp ứng tiến độ, chất lượng” hay “lĩnh vực chiến lược” còn mang tính khái quát, phạm vi rộng. Nếu không quy định cụ thể các điều kiện, tiêu chí sẽ dẫn đến cách hiểu, cách áp dụng khác nhau, làm gia tăng các trường hợp chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư.
Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, hoàn thiện dự thảo theo hướng quy định rõ điều kiện, tiêu chí và giới hạn áp dụng chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư; bảo đảm chỉ áp dụng trong những trường hợp thực sự cần thiết, có căn cứ khách quan, tránh mở rộng tùy tiện làm hạn chế cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu.

Toàn cảnh thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Liên quan đến quyền kiến nghị trong hoạt động đấu thầu, Phó Chủ tịch Quốc hội lưu ý, Điều 56 dự thảo Luật chỉ quy định quyền kiến nghị đối với kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, bỏ quy định kiến nghị xem xét lại các vấn đề trong quá trình quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư theo Luật hiện hành. Đây là nội dung cần được cân nhắc kỹ lưỡng.
Phó Chủ tịch Quốc hội phân tích, quy định này có thể thu hẹp phạm vi quyền kiến nghị của nhà thầu và các điều kiện, tiêu chí có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh có thể xuất hiện ngay trong hồ sơ mời thầu, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và cơ hội tham dự của nhà thầu trước khi diễn ra quá trình lựa chọn. Trong thực tế, có thể xuất hiện tình trạng hồ sơ mời thầu được xây dựng với những tiêu chí, điều kiện mang tính đặc thù, tạo lợi thế cho một đơn vị nhất định, thậm chí người có thẩm quyền quyết định cũng không nhận biết được.
Mặc dù dự thảo luật đã quy định việc làm rõ hồ sơ mời thầu, song cần phân biệt giữa yêu cầu làm rõ thông tin với kiến nghị xem xét lại những điều kiện, tiêu chí có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh. Đặc biệt, khi chủ đầu tư là chủ thể phê duyệt hồ sơ mời thầu, việc chỉ yêu cầu chính chủ đầu tư làm rõ chưa bảo đảm đầy đủ tính khách quan trong xem xét, xử lý những nội dung bị phản ánh.
Do đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị hoàn thiện Điều 56 theo hướng thiết lập cơ chế xem xét, xử lý khách quan, độc lập và kịp thời đối với các điều kiện, tiêu chí trong hồ sơ mời thầu có nguy cơ hạn chế cạnh tranh, trước thời điểm đóng thầu.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Việc đơn giản hóa thủ tục kiến nghị là cần thiết, nhưng không được làm giảm khả năng bảo vệ quyền tham dự đấu thầu hợp pháp của nhà thầu, cũng như hiệu quả phòng ngừa vi phạm ngay từ đầu.
Cùng với đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị làm rõ giới hạn thẩm quyền quy định các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Theo đó, cần phân biệt giữa việc quy định chi tiết về quy trình, thủ tục với việc bổ sung hình thức lựa chọn nhà thầu, mở rộng các trường hợp chỉ định thầu hoặc đối tượng được hưởng ưu đãi.
Đây không đơn thuần là những vấn đề kỹ thuật mà là các chính sách tác động trực tiếp đến quyền tham dự thầu, phạm vi cạnh tranh và cơ hội tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị rà soát Điều 8 và Điều 19, quy định ngay trong luật những chính sách thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, nhất là các hình thức lựa chọn nhà thầu, trường hợp áp dụng chỉ định thầu và nguyên tắc, điều kiện, giới hạn của chính sách ưu đãi.
Chính phủ được giao quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, phương pháp và tổ chức thực hiện trong phạm vi luật đã xác định, tránh mở rộng các ngoại lệ về cạnh tranh bằng văn bản dưới luật, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đánh giá hiệu quả đấu thầu theo chi phí vòng đời, kiểm soát chặt việc điều chỉnh hợp đồng
Đề cập đến đổi mới công tác quản lý hoạt động đấu thầu, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đánh giá cao định hướng của dự thảo luật về đơn giản hóa thủ tục, giảm khâu trung gian, tăng quyền tự chủ cho chủ đầu tư và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả định hướng này, cần đổi mới cách thức đánh giá kết quả đấu thầu, đồng thời tăng cường giám sát toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, hiệu quả đấu thầu không chỉ thể hiện ở việc lựa chọn nhà thầu đúng quy trình, có giá trúng thầu thấp mà còn phải được đánh giá thông qua chất lượng, tiến độ và kết quả thực tế của gói thầu.
Dự thảo luật đã có những quy định theo hướng lựa chọn phương án mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại Điểm d Khoản 1 Điều 29 và hợp đồng theo kết quả đầu ra tại Khoản 6 Điều 39. Đây là hướng tiếp cận cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, đặc biệt đối với các gói thầu mua sắm thiết bị công nghệ và công trình có chi phí vận hành, bảo trì lớn.
Phó Chủ tịch Quốc hội phân tích, nếu chỉ chú trọng giá mua sắm ban đầu mà chưa tính toán đầy đủ chi phí trong suốt quá trình sử dụng thì chưa phản ánh đúng hiệu quả đầu tư, mua sắm. Thực tế có trường hợp nhà thầu đưa ra mức giá thấp khi dự thầu nhưng trong quá trình thực hiện lại phát sinh những yếu tố dẫn đến điều chỉnh chi phí. Đối với mua sắm thiết bị, ngoài giá mua ban đầu còn phải tính đến chi phí bảo hành, bảo trì, vận hành trong suốt thời gian sử dụng.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Phó Chủ tịch Quốc hội đặc biệt lưu ý cơ chế kiểm soát việc sửa đổi hợp đồng sau khi đã lựa chọn nhà thầu. Theo quy định tại Điều 41 của dự thảo luật, chủ đầu tư được quyết định sửa đổi hợp đồng trong trường hợp giá gói thầu sau điều chỉnh vượt giá gói thầu được duyệt nhưng không vượt tổng mức đầu tư hoặc dự toán mua sắm.
Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, việc kiểm soát sửa đổi hợp đồng không nên chỉ căn cứ vào giới hạn tổng mức đầu tư hoặc dự toán mua sắm mà cần xem xét cả mức độ thay đổi về phạm vi công việc, giá trị hợp đồng, điều kiện cạnh tranh và các cam kết làm căn cứ lựa chọn nhà thầu ban đầu.
Nếu hợp đồng sau khi ký kết được điều chỉnh đáng kể so với các điều kiện ban đầu thì kết quả cạnh tranh trong quá trình đấu thầu có nguy cơ không còn phản ánh đúng phương án thực tế được triển khai. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của hoạt động đấu thầu.
Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị bổ sung vào Điều 41 nguyên tắc việc sửa đổi hợp đồng không được làm thay đổi căn bản các điều kiện cạnh tranh và những nội dung chủ yếu làm căn cứ lựa chọn nhà thầu. Trường hợp phát sinh thay đổi mang tính căn bản, cần có cơ chế xử lý phù hợp nhằm bảo đảm công bằng, minh bạch và bảo vệ kết quả cạnh tranh thực chất.
