Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng: Rà soát cơ chế phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia
Cơ bản tán thành với dự thảo Luật Phát triển đô thị, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, làm rõ một số quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất, khả thi của luật. Trong đó, cần tránh chồng lấn cơ chế phát triển Trung tâm tài chính quốc tế theo Điều 23 và làm rõ cơ chế vay vốn nước ngoài của các đô thị đặc biệt, bảo đảm phát huy quyền tự chủ của địa phương nhưng không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu an toàn tài chính quốc gia.
Tránh chồng lấn cơ chế phát triển Trung tâm tài chính quốc tế
Phát biểu về dự thảo Luật Phát triển đô thị, Phó Chủ tịch Quốc hội cơ bản tán thành với các nội dung của dự thảo luật. Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật cũng như thuận lợi trong tổ chức thực hiện, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, làm rõ hai nhóm vấn đề.
Thứ nhất, về Điều 23 của dự thảo Luật Phát triển đô thị quy định về cơ chế phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, đề nghị rà soát kỹ lưỡng để bảo đảm thống nhất với Nghị quyết 222/2025/QH15 của Quốc hội về thành lập và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, tránh tình trạng quy định trùng lặp hoặc hình thành thêm một cơ chế quản lý, điều hành hay một tầng nấc cấp phép song song.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại phiên thảo luận tổ
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, Nghị quyết 222/2025/QH15 đã quy định một Trung tâm tài chính quốc tế nhưng được thành lập tại địa điểm (Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng), với một Hội đồng điều hành chung. Tại mỗi địa phương đều có cơ quan điều hành thực hiện theo quy chế hoạt động thống nhất do Hội đồng điều hành ban hành. Trong tháng 7 vừa qua, Hội đồng điều hành đã ban hành quy chế hoạt động; đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển Trung tâm tài chính quốc tế đến năm 2035.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật Phát triển đô thị
Qua nghiên cứu Điều 23 của dự thảo luật, Phó Chủ tịch Quốc hội lưu ý, có những khoản quy định chung là “thành phố”, nhưng tại một số điểm lại quy định cụ thể là “Thành phố Hồ Chí Minh”. Vì vậy, cần làm rõ điều luật này được thiết kế áp dụng riêng cho Thành phố Hồ Chí Minh hay áp dụng chung cho cả Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng? Việc làm rõ phạm vi áp dụng là rất cần thiết để bảo đảm sự thống nhất và thông suốt trong quá trình triển khai.
Phó Chủ tịch Quốc hội cho biết: thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiến hành rà soát, đánh giá tình hình triển khai Nghị quyết 222/2025/QH15 sau một năm thực hiện. Qua đó cho thấy, Nghị quyết 222/2025/QH15 đã thiết lập một khung pháp lý với nhiều cơ chế mở và trao quyền khá lớn cho Chính phủ.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng phát biểu
Cụ thể, Chính phủ được quy định các sản phẩm, dịch vụ tài chính được phép cung cấp tại Trung tâm tài chính quốc tế; quy định về thành viên của trung tâm; đồng thời được ban hành các văn bản có nội dung khác với quy định của luật và các nghị quyết hiện hành khi cần thiết để triển khai cơ chế đặc thù.
Do đó, nếu Điều 23 của dự thảo luật quy định trùng với những nội dung đã được Nghị quyết 222/2025/QH15 điều chỉnh thì không cần thiết. Ngược lại, nếu có quy định khác thì phải rà soát kỹ để bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật. Đây là vấn đề cần được làm rõ ngay trong quá trình hoàn thiện dự thảo luật, nhất là khi Trung tâm tài chính quốc tế đang được kỳ vọng trở thành một động lực mới cho phát triển kinh tế và hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam – Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh.
Trao quyền cho đô thị nhưng phải giữ vững an toàn tài chính quốc gia
Tán thành với việc tăng quyền tự chủ và bổ sung thêm nguồn lực cho các đô thị đặc biệt. Song, theo Phó Chủ tịch Quốc hội, một số nội dung tại điều này cần được quy định rõ hơn. Cụ thể, tại khoản 5 Điều 32 quy định: HĐND thành phố có thẩm quyền quyết định việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; đồng thời, được vay từ các tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài để huy động vốn nhằm triển khai các dự án đầu tư của Thành phố.
Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, việc mở rộng khả năng huy động vốn, kể cả từ nước ngoài là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng đô thị. Tuy nhiên, cần làm rõ việc vay vốn nước ngoài của các địa phương có chịu sự ràng buộc bởi các chỉ tiêu, giới hạn và các cân đối về nợ nước ngoài của quốc gia hay không. Do đó, cần rà soát, tính toán kỹ, bởi trong trường hợp nhiều địa phương đồng thời thực hiện vay vốn nước ngoài, tổng nghĩa vụ vay và trả nợ có thể tác động đến hạn mức nợ nước ngoài của quốc gia cũng như các chỉ tiêu an toàn tài chính quốc gia.
Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị dự thảo luật cần quy định rõ cơ chế phối hợp giữa các địa phương với Bộ Tài chính - cơ quan quản lý nhà nước về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia, trong quá trình xem xét, thẩm định, theo dõi và kiểm soát các khoản vay nước ngoài của địa phương. Điều này sẽ góp phần bảo đảm vừa phát huy quyền tự chủ của địa phương, vừa giữ vững an toàn tài chính quốc gia.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 10
Dự thảo cho phép ngân sách thành phố hưởng các khoản phí, lệ phí ngoài Danh mục hiện hành và các khoản thu khác chưa được quy định trong pháp luật về ngân sách nhà nước; đồng thời, giao HĐND Thành phố điều chỉnh mức hoặc tỷ lệ thu một số khoản phí, lệ phí. Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, Luật cần xác định nguyên tắc các khoản thu này phải gắn với dịch vụ, lợi ích hoặc chi phí quản lý cụ thể; không được trùng với nghĩa vụ tài chính hiện hành và không phải là một sắc thuế mới.
Tại khoản 6 Điều 32 dự thảo Luật giao UBND Thành phố điều hành linh hoạt giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên trong tổng nguồn ngân sách đã được HĐND thông qua, sau đó báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất. Cho rằng, đây là thẩm quyền lớn, Phó Chủ tịch Quốc hội lưu ý, phải rõ giới hạn: việc điều hành không làm thay đổi tổng mức chi, các mục tiêu, nhiệm vụ và dự án quan trọng đã được HĐND quyết định; không chuyển nguồn đầu tư sang hình thành các nhiệm vụ chi thường xuyên có tính chất lâu dài hoặc làm ảnh hưởng đến cân đối ngân sách những năm sau.











