Qua đất Tây Nguyên

Đoàn chiến sĩ thi đua đi bộ từ Liên khu 5 vào Củ Chi để dự Đại hội chiến sĩ thi đua, được gần một tháng thì có âm thanh ì ầm của trực thăng và họ tiếp tục xuyên rừng trong bóng đêm gần sát ổ hỏa điểm.

Bộ hành xuyên núi hơn ba tháng để dự Đại hội: Vệt hành trình vô tận

“Chú ý, đoàn sắp tới khu vực Sân bay Tân Cảnh (Đắk Tô 2)”. Đây là nơi đồn trú của Lữ đoàn dù 173 (Mỹ), Sư đoàn 4 Bộ binh (Mỹ), Lữ đoàn Sư đoàn Không kỵ số 1 (Mỹ). Quân địch ra sức chặn tuyến đường 14 và 19.

Anh hùng Lực lượng VTND Hồ Kan Lịch nay tuổi cao, không còn đi lại được (ảnh lớn). Bà vui mừng khi nhận ra chân dung Anh hùng Lực lượng VTND Đinh Tía (ảnh nhỏ), người đồng đội từng cùng bà hành quân bộ vào Củ Chi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua gần 60 năm trước

Anh hùng Lực lượng VTND Hồ Kan Lịch nay tuổi cao, không còn đi lại được (ảnh lớn). Bà vui mừng khi nhận ra chân dung Anh hùng Lực lượng VTND Đinh Tía (ảnh nhỏ), người đồng đội từng cùng bà hành quân bộ vào Củ Chi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua gần 60 năm trước

Bóng giao liên

Bà Hồ Kan Lịch, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân có mặt trong đoàn Chiến sĩ thi đua, giờ đây cũng không nhớ được hành trình của đoàn đã qua bao nhiêu khe núi, con suối, bao lần bơi vượt sông Re, sông Liên ở Quảng Ngãi; sông An Lão, Kim Sơn ở Bình Định; sông Đắk Bla, Đắk Pre ở Kon Tum; có lúc đi cầu dây lắt lẻo, có lúc hụp nhanh trên lưng đồi vì nghe tiếng máy bay. Gặp lúc khó khăn thì Trưởng đoàn lấy tinh thần đảng viên ra động viên.

Khu vực “tam giác sắt” An Lão - Ba Tơ - Kon Plông là nơi sông suối chảy xiết, nhiều chiếc cầu dây được đồng bào H’rê, Ba Na bí mật dựng trong rừng. Mỗi khi trực thăng UH-1A sà thấp, quần đảo vài vòng, ai nấy đều nín thở. Có lúc lính trên trực thăng không phát hiện người, nhưng chỉ cần thấy rẫy ngô, luống lang, mái nhà tranh là lập tức hạ xuống đốt phá, tiêu hủy nguồn lương thực của cách mạng.

Ở đơn vị E240, chị Nguyễn Thị Đạt từng bị sốt rét, phải nằm lại trong ngôi nhà tranh của trạm giao liên, còn các chị em khác lên rẫy hái lượm, trồng củ. Khi trực thăng địch hạ xuống, chúng phóng hỏa đốt nhà, đốt ngô. Chị Đạt không kịp thoát ra và hy sinh trong chính ngôi nhà lá ấy.

Đi được bao nhiêu ngày? Không nhớ lắm, Đinh Tía và Hồ Kan Lịch nói với nhau, chỉ tính ngày bằng “con ma đi ngủ, con chim về tổ”. Chân đi mãi rồi tới lúc ra khỏi rừng già, tới rừng thấp của vùng đất Tây Nguyên. Đoàn Chiến sĩ thi đua đi tiếp giữa các bụi le, cây dầu trà beng, cây cẩm liên, cây cà chít, cây dầu lông. Những dòng suối toàn lá rụng đen sì, nước tù đọng, nên nỗi lo thiếu nước uống lại tăng lên.

Giao liên đón đoàn công tác ở đầu cánh rừng khộp là một tổ đồng bào dân tộc: Một chàng thanh niên mang chiếc ná, một người cầm dao rựa, chỉ có một người được trang bị khẩu súng đã cũ.

Người thanh niên cầm dao rựa liên tục phát đường. Có lúc nhóm giao liên dẫn đoàn men theo lối mòn, có lúc bất ngờ rẽ sang hướng khác vì sợ bị phục kích. Khi ấy, chiếc dao rựa lại lia ngang, mở lối cho đoàn chui qua những lùm cây rậm, rồi tiếp tục xuyên vào cánh rừng khộp. Thỉnh thoảng, cả đoàn lại vội lẩn xuống dưới những bụi le dày đặc khi trên đầu vang lên tiếng vo vo. “Bà đầm tới đó! Máy bay OV-10!”, mọi người khẽ truyền nhau.

Trong đoàn có hạ sĩ Duy, một tay săn bắn thiện xạ. Đêm xuống, anh lăm lăm khẩu súng, rình bắn cheo để kiếm thêm thức ăn. Còn anh Bắc, quê tận Hòa Bình, lại trổ tài thổi kèn lá, nhại tiếng con mang để dụ cả bầy kéo tới.

Tư liệu báo chí về Đoàn đại biểu Anh hùng và Chiến sĩ thi đua Quân giải phóng miền Nam sau khi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tại Củ Chi, tiếp tục hành quân ra miền Bắc gặp Bác Hồ, rồi trở về Quảng Nam, Quảng Ngãi

Tư liệu báo chí về Đoàn đại biểu Anh hùng và Chiến sĩ thi đua Quân giải phóng miền Nam sau khi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tại Củ Chi, tiếp tục hành quân ra miền Bắc gặp Bác Hồ, rồi trở về Quảng Nam, Quảng Ngãi

Gian nan vượt núi

Tại trạm giao liên ở Bình Định, thông tin từ các chốt báo về cho thấy địch có thể đang di chuyển, nên cả nhóm phải nằm lại chờ lệnh. Đêm xuống, tin tức đưa về vẫn là tiếp tục chờ. Mãi đến sáng hôm sau, trạm báo có thể xuất phát vào chiều tối, nhưng phải đi theo một tuyến đường mới.

Trước giờ lên đường, giao liên phổ biến kỹ: Đi đêm tuyệt đối không được bật lửa, phải thường xuyên lắng nghe tín hiệu, ám hiệu và trả lời đúng mật khẩu. Cứ đi khoảng một giờ, đoàn sẽ được nghỉ giải lao để nắm tình hình phía trước.

Cô giao liên người Bình Định, gần 30 tuổi, là người Ba Na, nước da sạm đen, vóc dáng rắn rỏi. Khi qua khu vực bán sơn địa Hoài Ân, nơi có dãy núi Gò Loi, núi Đèn, đoàn di chuyển về phía đông một căn cứ địch đóng trên núi. Cô giao liên liên tục ra hiệu, nhắc mọi người luôn sẵn sàng ẩn mình nếu có động.

Trên đường trở về Quảng Nam, Quảng Ngãi, những người bị sốt rét ác tính sẽ được đưa tới Phnôm Pênh (thủ đô Campuchia) điều trị, với sự hỗ trợ của bà con Hoa kiều. Trong số các chiến sĩ dự Đại hội, một số người tiếp tục đi bộ ra miền Bắc để gặp Bác Hồ.

Nếu không có giao liên liên tục đón, hướng dẫn và dẫn đường, đoàn khó có thể xác định được phương hướng, dù trong tay có bản đồ. Trên những dãy núi âm u, dưới tán rừng già chằng chịt là vô số lối đi; mỗi tuyến lại mang một mật danh riêng. Nhiều con đường đã nằm trong kế hoạch dự kiến như đường 22 ở phía tây Quảng Ngãi; tuyến nối Ba Tơ (Quảng Ngãi) với An Lão (Bình Định); đường mòn ven sông Re; tuyến An Lão - Vĩnh Thạnh (Bình Định).

Mỗi lần qua trạm giao liên, mỗi người được cấp một bi đông nước ngọt để dùng trong nửa ngày. Khi vượt những đoạn trèo đèo, đu vách núi, ai cũng thở phì phò, bi đông nước vì thế vơi rất nhanh. Nhưng không ai dám uống cạn, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả đoàn rơi vào cảnh khát cháy cổ giữa lưng núi.

Anh hùng Đinh Tía chỉ còn một cánh tay nhưng vẫn đu người thoăn thoắt qua những gốc cây, kẽ đá. Theo phong tục của đồng bào H’rê, khi đi rừng không ai than mệt, vì sợ thần núi, ma rừng nghe thấy. Muốn nghỉ hay muốn ăn, họ chỉ nói tránh: “Cái chân muốn nghỉ rồi”, “cái bụng nó muốn ăn rồi”.

Các anh Ngô Sĩ Duy, Võ Lai, Võ Tòng, Ngô Tấn Tĩnh, Trần Văn Đình, Huỳnh Thúc Bá thỉnh thoảng lại trêu hạ sĩ Duy, hỏi có nghe tiếng cheo kêu đâu đó không. Hạ sĩ Duy chỉ chờ có vậy, liền lắng tai nghe ngóng, mong kiếm được món thịt cheo nướng giữa rừng.

Chặng cuối…

Hai người lính Võ Tòng, Ngô Sĩ Duy thường kể với Anh hùng Đinh Tía, Hồ Kan Lịch về thời chống Pháp, khi bộ đội ở rừng U Minh dùng bồ câu đưa thư ngoài mặt trận. Trong số đó, chim bồ câu mang quân hiệu số 8 được xem là con chim khôn nhất. Rồi mấy anh em lại nhắc đến người đánh giặc bằng ong nổi tiếng là Hồ Kan, người Giẻ Triêng, từng nuôi tới 90 tổ ong lỗ để đưa ra trận. Vào miền Nam, anh em học cách ấy, dự định sau này về truyền lại cho đồng bào Cơ Tu, H’rê, Ca Dong, Vân Kiều.

Đến vùng Tây Nguyên, đoàn vòng sang đất Campuchia, đi song song với đường biên giới, hướng về Bình Phước, Tây Ninh rồi sẽ rẽ ngoặt trở lại Việt Nam để vào Củ Chi. Lính Hoàng gia Campuchia nếu gặp quân giải phóng Việt Nam đi lẻ thường xin kiểm tra. Người phiên dịch Campuchia gọi đoàn công tác là “các quan lớn”. Có lúc, lính Campuchia ra hiệu xin khám người, đưa tay vuốt dọc thân thể. Khám xong, họ gật đầu rồi lại xin quà: “Bẩm quan, cho xin ít viên đạn AK”.

Đoàn rời Quảng Nam từ cuối tháng 3, nhưng mãi đến đầu tháng 8 mới đặt chân tới Củ Chi. Giao liên Củ Chi ra đón, hướng dẫn đoàn làm thủ tục vào căn cứ, việc đầu tiên là dặn kỹ cách đề phòng rắn cắn. Một cô du kích nhắc: “Các anh em chú ý, trước khi xuống hầm phải kiểm tra xem có rắn quằm quặp lửa hay không. Loài rắn này cũng thích chui vào hầm; nếu bị cắn vào đầu, cổ, lưng thì rất khó cấp cứu. Đoàn chiến sĩ thi đua năm 1965 từng có một người vừa xỏ dép đã bị rắn cắn, phải cưa chân”.

Đại hội Chiến sĩ thi đua miền Nam năm 1967 diễn ra từ ngày 17.9. Tại Đại hội, các chiến sĩ đọc báo cáo thành tích, chia sẻ kinh nghiệm chiến đấu. Bữa liên hoan có những món ngon hiếm hoi giữa chiến khu như chả, gà, thịt lợn luộc, thịt trâu xào lá lốt. Giữa không gian chiến tranh ác liệt, vài trăm con người vẫn bình an vô sự cho đến ngày rời Củ Chi.

(Còn tiếp)

LÊ VĂN CHƯƠNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/doi-song/qua-dat-tay-nguyen-223501.html