Qua giông bão, người lính trở về làng biển: Bài 3: Người trở về sau tờ giấy báo tử
Một tờ giấy báo tử xác nhận Nguyễn Văn Tự đã hy sinh. Một cuốn sổ lưu bút đầy những lời chúc ông sống khỏe, trở về quê hương và dựng lại cuộc đời. Nằm cạnh nhau hơn nửa thế kỷ, hai kỷ vật kể về người lính từng bặt tin giữa chiến trường, sống sót qua gần bốn năm tù đày rồi trở về Hải Bình trong sự đỡ nâng bền bỉ của người vợ.

Bà Nguyễn Thị Đoàn chỉnh lại dây ôxy cho chồng - cựu tù binh chiến tranh Nguyễn Văn Tự.
Những vết thương còn nhớ
Tờ giấy báo tử đã ố vàng, những nếp gấp cũ hằn sâu trên mặt giấy mỏng. Dòng chữ đánh máy bằng mực tím vẫn còn rõ: “Đồng chí Nguyễn Văn Tự, sinh năm 1948, quê xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, “hy sinh ngày 11/8/1969 tại mặt trận phía Nam”; thi hài được an táng tại nghĩa trang đơn vị gần mặt trận”. Ngày 4/11/1972, tờ giấy được lập và gửi về làng biển ở Hải Bình. Trong căn nhà nhỏ của gia đình từ đó có thêm một bàn thờ. Cha mẹ ông tin rằng người con trai đã nằm lại ở một nghĩa trang nào đó nơi chiến trường. Không ai hay người đang được ngày ngày thờ cúng vẫn còn sống.

Dù thường xuyên hụt hơi, khó thở, ông Nguyễn Văn Tự vẫn cố gắng kể lại những mảnh ký ức về ngày bị bắt và quãng thời gian tù đày.
Hơn nửa thế kỷ sau, ông Nguyễn Văn Tự nằm trên chiếc giường hẹp trong căn phòng vương mùi thuốc. Hai dây oxy mảnh vắt qua gò má gầy, nâng đỡ từng nhịp thở. Một bên cơ thể teo nhỏ, tay chân gần như mất khả năng tự cử động. Mỗi lần cất lời, ông phải dừng khá lâu mới đủ sức nói tiếp. Bệnh tật khiến câu chuyện của người lính già đứt đoạn. Nhưng dấu tích chiến tranh trên cơ thể ông vẫn còn nguyên. Nhắc đến ngày bị bắt và những trận tra tấn năm xưa, ánh mắt ông bỗng tỉnh lại. Những mảnh ký ức rời rạc lần lượt tìm về. Có những điều trí nhớ không còn giữ được, nhưng những vùng đau thì vẫn ở đó.
Tháng 7/1967, Nguyễn Văn Tự lên đường nhập ngũ khi 19 tuổi. Cuối năm ấy, ông vào chiến trường miền Đông Nam bộ. Trong lời kể nhiều chỗ ngắt quãng, ông vẫn lần lượt gọi tên Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa... Có địa danh được nhắc rành rọt như còn ở trước mắt; có tên chỉ còn một âm đầu rồi trôi khỏi trí nhớ...
Riêng ngày 13/5/1969, ông chưa từng quên. Trong một trận đánh tại chiến trường miền Nam, người lính trẻ bị địch bắt. Đơn vị mất liên lạc với ông từ đó. Đồng đội không biết ông đã hy sinh, thất lạc hay rơi vào tay đối phương. Gia đình cũng không nhận được bất cứ tin tức nào. Chính khoảng trống ấy về sau khép lại bằng tờ giấy báo tử.
Theo hồ sơ quân nhân do ông kê khai sau chiến tranh, thời gian bị giam giữ kéo dài từ tháng 5/1969 đến tháng 3/1973. Những năm tù đày bắt đầu tại Trại giam Biên Hòa, trước khi ông bị đưa ra Trại tù binh Phú Quốc.

Anh Nguyễn Văn Vinh, con trai út của ông Tự mở lại giấy báo tử và những hồ sơ quân nhân đã được gia đình gìn giữ qua nhiều năm.
Mỗi khi nhắc đến Phú Quốc, câu chuyện không còn tuân theo trình tự trước sau. Ký ức trở về qua những cảm giác: hai cánh tay bị trói quặt ra sau, mảnh vải đen bịt kín mắt, những trận đòn liên tiếp trút xuống và cơn đau buốt chạy dọc một bên người. Ông không còn nhớ rõ việc nào xảy ra trước, nhưng từng tư thế bị trói, từng vùng đau vẫn hiện lên rõ ràng. Ông Tự kể, trong một lần tra tấn, cai ngục đã dùng dao cắt vào gân tay và chân trái để buộc người tù khuất phục.
Gia đình không còn lưu giữ hồ sơ y khoa từ thời điểm ấy để xác định đầy đủ mức độ tổn thương. Song trên cơ thể người cựu tù, dấu vết vẫn hiện rõ: cánh tay và chân trái teo nhỏ hơn hẳn tay phải, các ngón co quắp, không thể tự duỗi thẳng. Tuổi già và bệnh tật tiếp tục lấy đi khả năng vận động của ông. Một bên chân teo yếu, cột sống lệch. Mỗi lần muốn đổi tư thế trên giường, ông phải dồn sức vào phần cơ thể còn cử động được, chậm chạp nghiêng người sang một phía.

Ông Nguyễn Văn Tự chỉ vào cánh tay trái đã teo yếu do di chứng của những trận tra tấn trong thời gian bị địch giam cầm.
Tháng 3/1973, thực hiện các điều khoản về trao trả tù binh sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông Nguyễn Văn Tự được tự do và trở về trong đợt trao trả lịch sử diễn ra tại Lộc Ninh (thuộc vùng giải phóng tỉnh Bình Phước lúc bấy giờ).
Trải qua thời gian an dưỡng, phục hồi sức khỏe, ông tiếp tục ở lại quân ngũ. Đến tháng 11/1975, khi đất nước đã thống nhất, ông mới chính thức phục viên, trở về Hải Bình.
Người thanh niên rời làng năm 19 tuổi trở lại quê hương với một thân thể đã đổi khác: dáng đi nghiêng lệch, cánh tay trái teo yếu. Nhà tù đã lùi lại phía sau, nhưng những tổn thương từ đó theo ông qua cánh cổng làng, đi vào từng bước chân và những công việc thường ngày.
Bên cạnh tờ giấy báo tử, gia đình còn gìn giữ một cuốn sổ lưu bút dày đặc nét chữ. Nhiều trang được viết vào các tháng 4, 5 và 6/1973, khi những người lính vừa bước ra khỏi nhà tù địch cùng an dưỡng, rồi chuẩn bị chia tay trở về các miền quê.
“Chúng ta sắp xa nhau rồi nhỉ? Xa nhau ta lại nhớ nhau” - một người bạn viết bằng mực tím. Bên dưới là tên tuổi, địa chỉ và ngày tháng ghi lưu bút.

Những trang lưu bút ghi lại lời chúc, địa chỉ và những cuộc hẹn gặp lại của những người vừa đi qua chiến tranh, tù đày.
Lật từng trang sổ là những địa danh nối dài từ Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh đến Hà Bắc. Có người hẹn khi nào đi công tác gần sẽ ghé thăm. Có người nhắc lại những ngày “đau khổ”, những giờ phút sống chết có nhau trong nhà tù Phú Quốc, rồi mong bạn mình trở về quê, dựng vợ gả chồng, xây dựng lại cuộc đời. Cuốn sổ không dành nhiều dòng để kể về đòn roi. Phần lớn là lời chúc sức khỏe, bình an, địa chỉ liên lạc và những cuộc hẹn. Sau quãng thời gian cái chết luôn ở rất gần, mong ước của họ trở nên giản dị: được trở về, sống một đời bình thường và còn có ngày tìm thấy nhau giữa đất nước hòa bình.
Người vá lại phần đời hậu chiến
Trở về quê với dáng đi nghiêng lệch và cánh tay trái gần như mất khả năng vận động, ông Tự từng nghĩ mình khó có thể lập gia đình. Khi ấy, bà Nguyễn Thị Đoàn, người con gái cùng làng, cũng chưa xây dựng gia đình. Qua sự tác hợp của người thân hai bên, họ tìm hiểu rồi nên duyên vợ chồng. Một đám cưới giản dị được tổ chức, mở đầu cuộc sống chung mà những khó nhọc đã hiện hữu từ những ngày đầu. Ông Tự cố gắng làm những việc vừa sức. Những phần việc không thể tự làm, bà Đoàn lặng lẽ đỡ đần.
Từ ngày về làm vợ ông Tự, bà Đoàn đã quen đi chậm bên dáng bước của chồng. Mỗi khi vết thương cũ trở đau, bà lo thuốc thang. Qua bậc cửa cao, bà đưa tay đỡ. Bốn người con lần lượt ra đời và lớn lên giữa những năm tháng bao cấp còn nhiều thiếu thốn. Bà vừa lao động, chăm con, vừa gánh thêm phần việc chồng không thể đảm đương.
“Suốt từ ngày lấy nhau, mẹ luôn là người chăm sóc bố”, anh Nguyễn Văn Vinh, người con út, chia sẻ. Hiện vợ chồng ông Tự sống cùng gia đình anh.

Cựu chiến binh, cựu tù binh Phú Quốc Nguyễn Văn Tự trò chuyện cùng con trai trong căn phòng nơi ông phải thường xuyên sử dụng oxy hỗ trợ hô hấp.
Trên bức tường sát giường bệnh vẫn treo tấm ảnh hai vợ chồng chụp từ nhiều năm trước, khi sức khỏe ông còn khá hơn. Trong ảnh, ông mặc vest, những tấm huân chương đeo ngay ngắn trên ngực; bà Đoàn ngồi bên trong tà áo dài tím. Người đàn ông khi ấy còn có thể giữ lưng thẳng, nhìn trực diện vào ống kính. Bây giờ, bệnh phổi buộc ông phải dùng oxy thường xuyên. Bà Đoàn ngồi sát bên, sửa lại cổ áo, gỡ đoạn dây đang vướng trước ngực chồng bằng những động tác chậm rãi, thuần thục. Hơn nửa thế kỷ trước, bà đến với người lính mang đầy thương tích. Đến tuổi xế chiều, sự chăm nom ấy vẫn tiếp tục trong từng bữa ăn, viên thuốc và những lần ông khó thở.
Những đóng góp, hy sinh của ông Nguyễn Văn Tự đã được ghi nhận. Năm 1976, ông được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba; năm 2002, được Nhà nước tặng danh hiệu “Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù, đày”. Năm 2012, Tập thể chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày tại Trại giam Phú Quốc được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.
Các huân chương, danh hiệu được gia đình đóng khung, treo trang trọng trên tường. Riêng tờ giấy báo tử và cuốn sổ lưu bút vẫn được cất trong tập hồ sơ đã ngả màu. Bà Đoàn khép tập giấy, đặt hai kỷ vật về chỗ cũ rồi trở lại bên giường, sửa cổ áo và đoạn dây oxy cho chồng. Người lính ấy đã trở về, có một mái nhà và nhìn các con trưởng thành.











