Qua sông, nhớ núi

Xuân Bính Ngọ - Ngang qua sông Hàn, đặt chân lên đất làng An Hải cũ, kẻ hậu sinh có thể mường tượng ra sông, ra núi của đất trời phương Nam đang hiển hiện trên công tích của một người con quê gốc Quảng Nam.

Khuôn viên di tích quốc gia Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu ở phía hữu ngạn sông Hàn. Ảnh: H.X.H

Khuôn viên di tích quốc gia Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu ở phía hữu ngạn sông Hàn. Ảnh: H.X.H

Núi nhờ người mà lưu truyền, người nhờ núi mà tồn tại

“Trộm nghĩ, lão thần vốn người Quảng Nam, thuở nhỏ lánh mình vào Nam, được vào nhung vụ, theo hầu sang Vọng Các, may được ân tri ngộ, bôn tẩu trên thượng đạo…”. Ở đoạn thứ 6 khắc trên bia Thoại Sơn, cụ Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại có nhắc về quê cũ. Tổng cộng 629 chữ Hán trên bia Thoại Sơn khắc dựng năm Minh Mạng thứ 3 (1822) để ghi dấu công trạng đào kinh/kênh Đông Xuyên trước đó, năm 1818, dưới triều vua Gia Long.

Được vua Gia Long khen và cho đổi tên sông theo tên người (Thoại Hà, tức sông Thoại), núi Sập ở bờ sông phía đông cũng cải tên thành Thoại Sơn, vị “lão thần vốn người Quảng Nam” ấy đã không giấu được niềm vinh dự. “Như thế là núi này tức lão thần mà lão thần tức là núi này; lâu xa vòi vọi, cùng trời đất chẳng tiêu mòn”, bia Thoại Sơn có đoạn khắc.

Ngọn núi ấy ở gần bờ kênh, sắc biếc dờn dợn và dựng cao sừng sững, sống động như long thần giỡn nước, phượng đẹp lượn trên sông, nhưng lâu nay trời đất giấu kín, chân người ít tới nơi... Phải đến khi có người đặt chân đến, nhìn ra hướng đi mới của thủy lộ để ghe thuyền qua lại tiện, không phải đi vòng đường biển và tấu trình việc đào kênh, thì sông và núi mang tên mới. Thoại Hà dài 31km nối từ Long Xuyên ra Rạch Giá trở thành công trình thoát lũ đầu tiên của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Tượng cụ Thoại Ngọc Hầu trong khuôn viên Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu. Ảnh: H.X.H

Tượng cụ Thoại Ngọc Hầu trong khuôn viên Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu. Ảnh: H.X.H

Cũng chỉ hơn 1 năm sau khi Thoại Hà thành hình và thành tên, “lão thần vốn người Quảng Nam” tiếp tục được vua Gia Long truyền chỉ lo việc đào kênh Hà Tiên - Châu Đốc dẫn nước ra vịnh Thái Lan, đào suốt hơn 4 năm đến triều vua Minh Mạng mới xong. Thủy lộ dài 91 km này được bình chọn là kênh đào lớn nhất nước, cũng được vua Minh Mạng ban cho tên mới là Vĩnh Tế Hà, lấy tên vị nhất phẩm phu nhân của Thoại Ngọc Hầu là Châu Thị Tế. Tương tự núi Sập ở Thoại Hà, bên bờ Vĩnh Tế Hà có núi Sam và cũng được vua ban cho tên mới: Vĩnh Tế Sơn.

Khi bia Vĩnh Tế Sơn khắc dựng năm 1828, nhất phẩm phu nhân Châu Thị Tế đã mất 2 năm, kênh đào xong đã 4 năm. Trong tổng cộng 730 chữ Hán, hậu thế đọc ra những dòng tha thiết khi vinh dự lần này được dành cho người vợ: “Người nhờ núi nêu danh mà trâm tóc vẻ vang, ân vua gội rửa; núi nhờ người được hiệu mà cỏ hoa tươi tốt, ân chúa thấm nhuần (…). Bụi sạch trên đường, lên ngắm nghía, dòng sông trải lụa, khách đi qua buông chèo nhàn ngoạn, tay trỏ non xanh cùng nói với nhau: “Đây là núi Vĩnh Tế, do vua ban tên đó!”. Vậy có phải núi nhờ người mà được lưu truyền chăng? Hay là người nhờ núi mà tồn tại mãi chăng?”.

Bên trong gian thờ chính của nhà thờ tiền hiền, với tượng Thoại Ngọc Hầu được tôn trí trang trọng. ẢNH: H.X.H

Bên trong gian thờ chính của nhà thờ tiền hiền, với tượng Thoại Ngọc Hầu được tôn trí trang trọng. ẢNH: H.X.H

“Kênh Vĩnh Tế” bên sông Hàn

GS. Nguyễn Văn Hầu, tác giả cuốn Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang xuất bản lần đầu năm 1971, có viết thêm chương 15 Áo gấm về làng khi bổ túc công trình nghiên cứu lần thứ 2 vào đầu năm 1975.

Những trang viết bổ sung đã mô tả rõ hơn nơi cụ Thoại Ngọc Hầu sinh ra: làng An Hải, tổng An Lưu Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. “Đó là một khu đất nằm ở hữu ngạn sông Hàn, gối đầu vào chân núi Sơn Trà và đối diện trung tâm thành phố”, GS. Nguyễn Văn Hầu viết. Độc giả phương xa đã có thể hình dung trong quê quán cũ của cụ Thoại Ngọc Hầu cũng có núi, có sông.

Tôi ngang qua sông Hàn, đến cuối chân cầu Rồng phía bờ đông thì rẽ phải. Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu, di tích lịch sử cấp quốc gia được xếp hạng từ năm 2007, ở gần đấy. Cụm công viên cảnh quan cùng nhiều hạng mục khác có tổng mức gần 71 tỷ đồng đang cấp tập giải tỏa, cải tạo đường sá và cảnh quan, chưa kịp hoàn tất trong năm 2025 như kế hoạch ban đầu. Trong tương lai gần, đấy sẽ là không gian nối di tích đền thờ ra phía đường Trần Hưng Đạo chạy ven sông. Ở khu công viên phía tây ấy, mặt nước được thiết kế “xuyên suốt kết nối theo hướng Đông - Tây với ý nghĩa mô phỏng kênh Vĩnh Tế”, như dự án mô tả.

Hoa văn trên bình phong tại Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu từng tạo cảm hứng để thiết kế bộ nhận diện thương hiệu “Ngày hội Di sản văn hóa Đà Nẵng năm 2020”. ẢNH: H.X.H

Hoa văn trên bình phong tại Nhà thờ tiền hiền làng An Hải và Thoại Ngọc Hầu từng tạo cảm hứng để thiết kế bộ nhận diện thương hiệu “Ngày hội Di sản văn hóa Đà Nẵng năm 2020”. ẢNH: H.X.H

Tôi mường tượng ra, công lao khai phá của ngài Thoại Ngọc Hầu hơn 2 thế kỷ trước sắp được “tái hiện” ở quê cũ của vị lão thần người Quảng Nam.

Sừng sững một “ngọn núi”

“Rày về sau, phàm khách thuận dòng mà ngang qua chân núi, chắc không ai không chỉ trỏ chuyện trò lý thú, ngưỡng mộ nhớ nhung đến công đức của vua kinh lý bờ cõi, và sau nữa, bàn tới duyên cớ vì đâu mà núi được ban tên”, cụ Thoại Ngọc Hầu từng hình dung như thế khi khắc bia Thoại Sơn.

Gần 2 thế kỷ sau, có một hậu nhân người Quảng tìm đến miệt An Giang để dựng phim tài liệu thời lượng gần 30 phút với tâm tình ngưỡng mộ, tri ân. “Tôi vào đó tầm 10 ngày, đi thuyền đến nhiều chỗ. Quá thú vị! Tên của cụ Thoại Ngọc Hầu bàng bạc khắp An Giang và nhiều tỉnh thành khác. Tên đường, tên quán, tên bia, tên đình, tên trường, tên làng, tên hồ… Có cả huyện mang tên Thoại Sơn, nay là xã Thoại Sơn mới”, NSND. Huỳnh Hùng nhớ lại. Phim tài liệu Sông núi khắc tên do ông viết kịch bản và đạo diễn đã đoạt giải B giải Báo chí quốc gia lần thứ IX và giải Cánh diều của Hội Điện ảnh Việt Nam hồi năm 2014.

Bản vẽ làng An Hải xưa do nhà nghiên cứu Võ Văn Dật thực hiện năm 1974, in trong cuốn Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang của Giáo sư Nguyễn Văn Hầu.

Bản vẽ làng An Hải xưa do nhà nghiên cứu Võ Văn Dật thực hiện năm 1974, in trong cuốn Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang của Giáo sư Nguyễn Văn Hầu.

Lúc ông Lê Đức Lân, thành viên Ban bảo vệ di tích đưa tôi vào viếng hương, di tích quốc gia này đang vắng khách tham quan. Sau 2 thế kỷ, quê cũ của vị lão thần triều Nguyễn quê gốc Quảng Nam quá khác, với nhiều khối nhà cao tầng vây bọc. Ở không gian này, chỉ thấy sông, không thấy núi. Nhiều tên đất, tên đường trong bản vẽ tay của nhà nghiên cứu Võ Văn Dật hồi năm 1974 cũng đổi khác. Chân núi Sơn Trà, nơi làng cũ An Hải “gối đầu”, trở nên xa hơn và ngăn cách hơn khi đô thị lớn như Đà Nẵng chuyển mình. Mặt nước xuyên suốt “mô phỏng kênh Vĩnh Tế” thì còn chờ thêm…

Nhưng kẻ hậu sinh chỉ cần ngang qua sông Hàn, đặt chân lên đất làng An Hải cũ cũng đủ nhìn ra núi, nhớ núi. Ngọn núi Thoại Ngọc Hầu.

HỨA XUYÊN HUỲNH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/qua-song-nho-nui-3325191.html