Quà tặng cô giáo cũ
HNN - Chiếc điện thoại trên bàn rung lên khi tôi đang nắn lại sợi cáp màn hình của một chiếc máy cũ. Ngoài hiên, mưa Huế lất phất, những giọt nước đọng trên giàn hoa giấy trước tiệm thỉnh thoảng rơi xuống mái tôn, nghe lộp độp. Tôi lau tay vào chiếc khăn đã ngả màu, mở tin nhắn nhóm lớp cũ. Tuấn, lớp trưởng ngày trước, nhắn: “Năm nay cô Thu tròn bảy mươi tuổi. Mấy đứa mình thu xếp về thăm cô nghe”. Tôi nhìn dòng chữ khá lâu.

Đã mười lăm năm tôi chưa trở lại căn nhà trong con ngõ nhỏ gần Gia Hội, nơi có người đàn bà được bao thế hệ học trò gọi bằng cái tên giản dị: Cô Thu Văn. Có người nhớ cô vì chấm bài kỹ, một lỗi chính tả cũng khoanh bằng mực tím. Có người nhớ những cuốn sách cô lặng lẽ bỏ vào cặp học trò nghèo. Còn tôi, điều nhớ nhất là cách cô nhìn học sinh, như thể đằng sau một đứa trẻ học hành lẹt đẹt vẫn có điều gì đáng để chờ đợi.
Ngày ấy, tôi thường ngồi cuối lớp. Tan học, tôi đạp xe về phụ cha sửa máy, khi thì chạy ra chợ Đông Ba giao hàng thuê. Quần áo tôi lúc nào cũng phảng phất mùi dầu nhớt, chữ viết nghiêng ngả như người đang chạy. Bài văn hiếm khi được điểm cao. Vậy mà dưới những gạch đỏ chi chít, cô bao giờ cũng để lại vài dòng nhận xét nhỏ.
Tôi còn nhớ bài văn được năm điểm năm. Cuối trang, cô viết: “Em nhìn thấy những điều người khác không để ý. Đừng đánh mất đôi mắt ấy”.
Hồi đó, tôi chỉ xấu hổ vì điểm số. Mãi đến khi mở tiệm sửa điện thoại, ngày ngày cúi sát những màn hình nứt vỡ để tìm chỗ đứt của mạch điện, tôi mới hiểu lời phê của cô năm nào lại rất hữu ích với chính nghề của mình.
*
Chiều muộn, Tuấn nhắn thêm rằng cô yếu nhiều, đang tính bán bớt sách vở vì nhà chật, mắt cũng kém. Tôi nhìn chiếc hộp thiếc đựng tiền sửa mái nhà trước mùa mưa, đếm đi đếm lại rồi rút riêng một xấp. Hai mươi tháng mười một sắp đến. Tôi nghĩ mình sẽ mua một món quà thật tử tế đến tặng cô.
Tôi ghé cửa hàng lưu niệm gần trường cũ. Trong tủ kính có khăn lụa, bình gốm, khung ảnh khắc chữ tri ân thầy cô. Món nào cũng đẹp, nhưng tôi cứ thấy thiếu điều gì. Cô đã dành gần bốn mươi năm ngồi trước bảng đen, chấm từng bài văn dưới ngọn đèn vàng. Một món quà đẹp đẽ liệu có nói được điều tôi muốn nói?
Ra khỏi cửa hàng, tôi đi vòng qua con đường sau trường. Mưa bụi giăng mờ những tán cây. Một chiếc xe ba gác chở đầy giấy vụn chậm chạp lăn qua, mấy cuốn sách bung gáy chực rơi xuống mặt đường. Người đẩy xe là bác Tư, chủ vựa giấy cũ ở gần cổng chợ.
Tôi ghé lại nhặt giúp bác mấy cuốn sách. Giữa đống hóa đơn, báo cũ và vở học trò, một cuốn sổ bìa nâu khiến tôi chú ý.
Trên bìa, hàng chữ mực tím đã nhòe nhưng vẫn đọc được: Sổ nhận xét lớp 9A.
Tôi lật vài trang. “Biết lắng nghe bạn”. “Viết còn vội”. “Đừng ngại nói điều mình nghĩ”. Mỗi cái tên đi kèm một vài dòng ngắn, ít mà đủ để người đọc hình dung phía sau điểm số là một gương mặt cụ thể.
Đến trang gần giữa sổ, tôi nhìn thấy tên mình: “Gia đình vất vả. Em có khả năng quan sát. Cần giữ niềm tin”.
Mấy chữ cuối nhòe đi, có lẽ vì nước mưa năm nào.
Bác Tư bảo đống giấy vừa chở từ nhà cô Thu sang. Cô nhờ bán bớt sách báo, giấy tờ cũ. Bác nói tỉnh queo như đang kể chuyện cân mấy ký giấy, còn tôi nghe mà thấy lòng nặng trĩu.
Tôi hỏi mua lại cuốn sổ. Bác cười:
- Một cuốn nớ đáng mấy đồng mô, con. Muốn lấy thì lấy cả chồng ni, bác tính giá giấy vụn cho.
Dưới đáy xe còn mấy tập bài văn buộc dây dù, vài quyển sổ đầu bài và một hộp giấy đã ố vàng. Tôi kéo chiếc hộp lên. Bên trong là những bức thư học trò gấp làm tư, có lá còn kẹp cánh phượng ép khô, giòn như bánh tráng.
Tôi chở gần nửa xe giấy về tiệm, trả bác nhiều hơn giá đồng nát. Bác lắc đầu, bảo giấy cũ thì cũng chỉ là giấy cũ.
Trên đường về, gió từ phía sông Hương thổi hun hút. Một mép thư bị gió lật lên, để lộ dòng chữ viết bằng mực xanh đã phai: “Mai này lớn lên, em sẽ về thăm cô”. Tôi không biết người viết còn nhớ lời hứa ấy không. Tôi đang giữ hộ cô một phần đời mà chính cô đã tưởng không còn đáng giữ.
*
Mấy tối liền, sau khi đóng cửa tiệm, tôi ngồi phân loại từng cuốn sổ, hong khô những lá thư ẩm, tháo các sợi dây đã mục. Mỗi trang giấy mở ra là một gương mặt cũ. Có bài văn vụng về, có lời cảm ơn chỉ vỏn vẹn vài dòng, có những lời hứa trẻ con được viết rất nghiêm túc.
Gần nửa đêm, tôi mở chiếc hộp giấy ố vàng. Dưới lớp thư cũ là một tập giấy khám bệnh, vài tờ phiếu lĩnh thuốc và cuốn sổ nhỏ ghi những ngày tái khám. Tôi định xếp lại như cũ thì một tấm danh thiếp của bệnh viện rơi ra. Mặt sau có mấy dòng chữ viết tay, nét mực đã nhạt. Tôi không đọc kỹ, chỉ nhận ra tên cô Thu ở cuối trang.
Tôi đặt tấm danh thiếp vào chỗ cũ. Ngoài trời, mưa vẫn rơi đều trên mái tôn.Tôi ngồi lặng một lúc rồi cẩn thận đặt mọi thứ về chỗ cũ.
*
Hai hôm sau, tôi mang chồng sổ đã buộc gọn sang nhà cô. Cánh cổng sắt vẫn có giàn hoa giấy, chỉ dây leo đã phủ kín hơn trước. Cô mở cửa chậm chạp, mái tóc bạc gần hết, chiếc áo len mỏng khoác trên vai. Căn nhà vắng, những chồng sách đã thưa đi.
Cô nhìn cuốn sổ bìa nâu, mắt lặng đi.
- Rứa mà cô tưởng mất nó rồi.
Cô cầm sổ, vuốt nhẹ mép bìa. Để đọc những dòng chữ cũ, cô phải đưa cuốn sổ sát gần mắt, nghiêng đầu về phía cửa sổ.
- Già rồi, mắt mũi kèm nhèm - cô cười - đến đem bán cả những vật mình từng trân quý mà nào biết mô.
Tôi kể chuyện con gái mình, bé Bống, đang phải tái khám ở bệnh viện mắt. Sau một đợt viêm giác mạc, mắt phải của con để lại sẹo. Bác sĩ bảo nếu thị lực tiếp tục giảm, có thể phải chờ nguồn giác mạc phù hợp.
Nói xong, tôi thấy mình lỡ lời. Chuyện ấy đáng lẽ không nên mang đến trong buổi thăm cô giáo cũ.
Cô im lặng nhìn ra sân. Mấy cánh hoa giấy rơi trên nền gạch ướt.
- Mắt quý lắm, em à. Còn nhìn thấy người mình thương là còn hạnh phúc.
Tôi chẳng biết nói gì.
Lúc ra về, cô lấy từ ngăn bàn một cuốn sổ bìa xanh, trao cho tôi.
- Cô ghi lại những câu văn học trò viết mà cô nhớ. Có câu hay, có câu vụng về, nhưng câu mô cũng có cái tình của người viết. Em cất giúp cô nghe.
Tôi cầm cuốn sổ, thấy nó nhẹ như một quyển vở học trò mà nặng hơn nhiều điều không thể gọi tên.
*
Một năm sau, tôi đang kiên trì sửa chiếc máy tính cũ thì điện thoại rung. Bệnh viện gọi, báo kết quả kiểm tra của Bống rất tốt, thị lực đang hồi phục. Chị điều dưỡng dặn tôi hôm sau ghé qua hoàn tất mấy thủ tục còn lại.
Tôi vừa định cúp máy thì chị hỏi:
- Anh đã nhận được thông tin về người hiến chưa?
Tôi bảo chưa. Một lát sau, điện thoại báo có tin nhắn. Tôi mở ra, đọc mấy dòng đầu rồi dừng lại ở cái tên cuối cùng: Nguyễn Thị Thu.
Tôi nhìn cái tên ấy giữa ánh đèn đường nhòe nước. Một chiếc xe máy chạy qua, hất lên lề mấy giọt mưa. Tôi vẫn ngồi yên, ngón tay giữ nguyên trên màn hình.
Hóa ra, buổi chiều hôm ấy, khi trao cho tôi cuốn sổ bìa xanh, cô đã nhìn tôi lâu hơn mọi lần. Hóa ra, câu hỏi cô hỏi về đôi mắt của Bống không chỉ là lời thăm nom của một cô giáo cũ.
Tôi trở lại con ngõ nhỏ với món quà tặng cô.
Cánh cổng nhà cô đã khóa. Giàn hoa giấy ướt sẫm trong đêm, vài cánh hoa dính trên nền gạch. Tôi đứng ngoài một lúc, rồi lấy cuốn sổ bìa xanh trong túi áo ra. Trang cuối cùng có một câu văn được cô chép bằng nét chữ rất đẹp: “Điều quý nhất là biết sống sao cho sự có mặt của mình đem lại niềm vui cho người khác”. Tôi không nhớ câu ấy của ai. Có lẽ cô cũng không còn nhớ mình đã chép từ bao giờ nữa.
*
Sáng hôm sau, Bống tỉnh dậy, đòi tôi mở cửa sổ. Nắng vừa lên, rơi thành một vệt dài trên bức tường. Con bé nhìn ra ngoài, reo lên vì thấy những chiếc lá bàng trước ngõ đã chuyển màu.
- Ba ơi, lá đẹp quá!
Tôi kéo ghế ngồi bên con, không nói gì. Lúc sau, Bống quay sang hỏi:
- Bao giờ ba đưa con đến thăm cô Thu?
Tôi cúi xuống sửa lại chiếc chăn trên người con.
- Khi mô khỏe hẳn, ba đưa con đi.
Hai bên bờ sông Hương, nắng vẫn rắc trên những tán lá xanh biêng biếc. Còn tôi, suốt phần đời còn lại, mỗi lần nhìn Bống ngắm một bông hoa, đọc một dòng chữ hay nhận ra gương mặt người thân từ phía xa, tôi sẽ nhớ đến cô.
Cô Thu đã không kịp nhận món quà ngày Nhà giáo của chúng tôi. Nhưng món quà cô để lại thì vẫn đang lớn lên, mỗi ngày, trong đôi mắt của một đứa trẻ.
