Quản chặt bao bì thuốc bảo vệ thực vật

Hơn 550 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được xử lý đang gây áp lực môi trường, thúc đẩy yêu cầu hoàn thiện cơ chế EPR và tăng kiểm soát chất thải nguy hại.

Vỏ thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng bị vứt thẳng xuống mương nước. Ảnh: TTXVN

Vỏ thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng bị vứt thẳng xuống mương nước. Ảnh: TTXVN

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định: Phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm. Trong bối cảnh mỗi năm phát sinh hàng nghìn tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, việc hoàn thiện cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), siết chặt quản lý thu gom, xử lý chất thải nguy hại và nâng cao ý thức cộng đồng đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm giảm ô nhiễm môi trường, hướng tới nền nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững.

Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lương Ngọc Quang cho biết, trong gần 2.500 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật đã thu gom được trong những năm gần đây thì hiện vẫn còn hơn 550 tấn chưa được xử lý.

Trong tổng lượng thu gom, chỉ khoảng 1.400 tấn bao bì được xử lý đúng quy định, hơn 500 tấn do người dân tự tiêu hủy và còn hơn 20% chưa được xử lý. Điều đáng nói là bao bì thuốc bảo vệ thực vật bị xếp vào chất thải nguy hại cho môi trường do chứa tồn dư hóa chất độc, cần quản lý nghiêm ngặt từ thu gom đến xử lý.

Theo ông Andrew Ward, Giám đốc Quản lý sử dụng sản phẩm Croplife, EPR cần được hiểu là cơ chế trách nhiệm thay vì nghĩa vụ tài chính đơn thuần. Đặc thù của bao bì thuốc bảo vệ thực vật khiến việc quản lý phức tạp hơn các loại rác thải khác. EPR, vì thế, không thể tách rời hoạt động đào tạo, nâng cao nhận thức và sự phối hợp giữa các bên liên quan, từ doanh nghiệp, chính quyền đến hệ thống thu gom và tái chế.

Đề cập đến các khó khăn, hạn chế, ông Lương Ngọc Quang đánh giá, nguyên nhân lớn nhất vẫn nằm ở nhận thức và thói quen của người dân. Tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương còn phổ biến, gây nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước. Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều bể chứa thiếu hoặc xây dựng không đúng chuẩn.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp Lê Chí Thiện cho hay, ngoài ý thức con người thì chi phí xử lý chất thải nguy hại rất cao, khoảng 30 triệu đồng/tấn, trong khi nguồn lực địa phương còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách.

Phó Trưởng phòng Chính sách - Pháp chế, Cục Môi trường Nguyễn Thành Yên thông tin, hạn cuối ngày 25/6/2026, các địa phương phải gửi báo cáo thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường, tham mưu UBND cấp tỉnh về nhu cầu hỗ trợ xử lý chất thải rắn, làm cơ sở tổng hợp, trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét.

Ông Yên cũng cho biết, việc đề xuất hỗ trợ được thực hiện theo hướng minh bạch. Các tỉnh, thành phố lưu ý cần cung cấp đầy đủ thông tin về nhu cầu xử lý, bao gồm diện tích đất trồng trọt, quy mô dân số và các dữ liệu liên quan. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý sẽ áp dụng công thức để xác định mức hỗ trợ. Những địa phương có diện tích canh tác lớn, phát sinh nhiều bao bì thuốc bảo vệ thực vật sẽ được áp dụng hệ số hỗ trợ cao hơn.

Về chuyên môn, quy định quản lý chất thải cũng có nhiều thay đổi so với trước đây. “Theo quy chuẩn mới, các cơ sở sản xuất, cung ứng phải thực hiện phân loại theo quy định cập nhật, dán nhãn xác nhận sản phẩm không vượt ngưỡng chất thải nguy hại”, ông Yên chỉ rõ.

Về trình tự thực hiện đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ xử lý chất thải, đại diện Cục Môi trường cho hay, trước ngày 1/4 hàng năm, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai số tiền đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải đối với các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật đã sản xuất hoặc nhập khẩu và đưa ra thị trường trong năm liền trước. Việc kê khai được thực hiện trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia tại địa chỉ epr.mae.gov.vn.

Theo ông Nguyễn Hắc Hiển, Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk, việc kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên hơn. Các vi phạm về môi trường phải xử lý nghiêm để tạo tính răn đe. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật cần quy định rõ. Các đơn vị này phải tham gia vào quá trình thu gom bao bì sau sử dụng, thay vì chỉ dừng ở khâu bán hàng.

Về hạ tầng, nên ưu tiên đầu tư các bể chứa và khu lưu trữ tạm thời, sửa chữa các công trình xuống cấp. Hệ thống giao thông nội đồng cũng cần được cải thiện để thuận lợi cho vận chuyển.

"Khi các giải pháp được thực hiện nhất quán, công tác quản lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sẽ hiệu quả hơn, từ đó giảm ô nhiễm môi trường và hướng tới nền nông nghiệp bền vững", ông Nguyễn Hắc Hiển nhấn mạnh.

Để triển khai hiệu quả việc quản lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật, ông Andrew Ward nhấn mạnh, cần xây dựng cơ chế minh bạch và công bằng; trong đó mọi doanh nghiệp đều phải đóng góp tương ứng với lượng bao bì đưa ra thị trường. Nguồn tài chính từ EPR cần được sử dụng trực tiếp cho hoạt động thu gom và xử lý, đồng thời khuyến khích thiết kế bao bì dễ tái chế, giảm tác động môi trường. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với khung pháp lý rõ ràng và sự tham gia đầy đủ của các bên, công tác bảo vệ môi trường có thể đạt hiệu quả cao.

Sự đồng hành, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trong truyền thông, lan tỏa và thúc đẩy triển khai hiệu quả các chính sách quan trọng như EPR, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh của Việt Nam, đóng góp thiết thực vào bảo vệ môi trường bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Thắng Trung/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/quan-chat-bao-bi-thuoc-bao-ve-thuc-vat/421367.html