Quảng Ninh: Nông nghiệp 'Xanh - Hữu cơ - Tuần hoàn' trở thành trụ cột phát triển bền vững

Thực hiện Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị, tỉnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, đặt mục tiêu trở thành hình mẫu về nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại và nâng cao đời sống nhân dân.

Mô hình nuôi gà hữu cơ của gia đình ông Hoàng Văn Cường, xã Đông Ngũ. Ảnh: Duy Tùng

Mô hình nuôi gà hữu cơ của gia đình ông Hoàng Văn Cường, xã Đông Ngũ. Ảnh: Duy Tùng

Quyết tâm chính trị và hành động cụ thể

Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 219-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã nhanh chóng ban hành Kế hoạch số 24-KH/TU (ngày 05/01/2026).

Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch số 24-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; tiếp tục cụ thể hóa và đưa Kết luận số 219-KL/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW vào thực tiễn phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của tỉnh trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng, tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của cấp xã; phát huy vai trò chủ thể của nông dân, cộng đồng dân cư và doanh nghiệp trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn hiện đại, văn minh, bền vững.

Theo Kế hoạch Quảng Ninh xác định mục tiêu cụ thể, duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản theo hướng xanh, sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, gia tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ, hiện đại, nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu. Nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân; phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể hiệu quả, thực chất.

Tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng trong tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tránh trùng lặp, chồng chéo, dàn trải nguồn lực; Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sinh thái, hiện đại, bền vững; nâng cao giá trị gia tăng; thích ứng với biến đổi khí hậu. Rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện các quy hoạch, đề án, chương trình phát triển nông nghiệp của tỉnh bảo đảm phù hợp với quy hoạch tỉnh, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành quốc gia; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng sinh thái, từng địa phương. Đẩy mạnh cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi, thủy sản hướng tới giảm diện tích, tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; ưu tiên phát triển các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản, sản phẩm OCOP gắn với xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý...

Đặc biệt, thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp; tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, nông nghiệp thông minh trong sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản... Tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa; phát triển mạnh các hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết “6 nhà”; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là trong chế biến sâu, logistics nông sản.

Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp, hiện đại, ứng dụng công nghệ cao; bảo đảm an toàn trước thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; từng bước hình thành và phát triển các vùng nuôi biển tập trung, quy mô lớn; đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm thủy sản miền Bắc. Đồng thời thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân; hoàn thiện hệ thống quản lý nghề cá theo hướng hiện đại.

Triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, thân thiện môi trường;

Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững; nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; khai thác hợp lý các giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng gắn với du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường rừng và sinh kế bền vững cho người dân miền núi.

Đàn lợn Móng Cái nuôi theo mô hình hữu cơ. Ảnh: Duy Tùng

Đàn lợn Móng Cái nuôi theo mô hình hữu cơ. Ảnh: Duy Tùng

Chuyển dịch mạnh mẽ mô hình “Xanh - Hữu cơ - Tuần hoàn”

Quảng Ninh đang từng bước thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất theo mô hình hữu cơ; góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường sinh thái và tạo sinh kế ổn định cho người dân. Hiện tỉnh Quảng Ninh đang tập trung mở rộng các vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ, tính đến đầu năm 2026, tỉnh đã có hơn 660 ha diện tích sản xuất an toàn được chứng nhận.

Nông nghiệp hữu cơ đang dần khẳng định vai trò trong chiến lược phát triển nông nghiệp của tỉnh. Nhằm tạo nền tảng cho lĩnh vực này phát triển lâu dài, năm 2022 Quảng Ninh đã ban hành Đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp bền vững, nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của nông sản. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đề án là khuyến khích phát triển các sản phẩm hữu cơ đạt tiêu chuẩn và được cấp chứng nhận, qua đó nâng cao giá trị và thương hiệu sản phẩm...

Các địa phương trong tỉnh đã chủ động chuyển đổi sang các mô hình trồng lúa, rau củ và cây ăn quả hữu cơ. Đặc biệt, diện tích quế tại các huyện miền núi như Tiên Yên, Đầm Hà, Ba Chẽ, Bình Liêu trồng cây quế truyền thống sang mô hình trồng quế hữu cơ, giúp nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập cho người dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời đang được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế để phục vụ xuất khẩu.

Trong chăn nuôi hữu cơ, Quảng Ninh khuyến khích mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, giảm sử dụng kháng sinh và hóa chất, hướng tới mục tiêu nâng giá trị sản phẩm chăn nuôi hữu cơ tăng từ 10-15% trong giai đoạn tới.

Định hướng đến năm 2030, vùng chăn nuôi gia súc hữu cơ: đàn bò thịt 2.000 con, đàn bò sữa 2.000 con, đàn dê 3.000 con, đàn trâu 1.000 con; Vùng chăn nuôi lợn hữu cơ: Đàn lợn thịt khoảng 12.600 con, trong đó lợn Móng Cái 5.400 con. Sản lượng thịt hơi vật nuôi hữu cơ đạt khoảng 3.220 tấn, chiếm khoảng 2% tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng hàng năm. Vùng chăn nuôi gia cầm hữu cơ: gà đẻ trứng 150.000 con; gà thịt 365.000 con, trong đó gà Tiên Yên 195.000 con; Đàn vịt đẻ trứng 27.000 con; Sản lượng trứng hữu cơ đạt khoảng 14.000.000 quả.

Quảng Ninh triển khai các giải pháp tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp một cách triệt để: Phụ phẩm làm phân bón: Chế biến rơm rạ và chất thải chăn nuôi thành phân hữu cơ bón lại cho cây trồng, giúp cải tạo đất và giảm chi phí đầu vào...

Vùng trồng quế hữu cơ. Ảnh: Duy Tùng

Vùng trồng quế hữu cơ. Ảnh: Duy Tùng

Hướng tới 2030 và tầm nhìn 2045

Theo lộ trình đề ra, Quảng Ninh phấn đấu đến năm 2030 sẽ hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp dẫn đầu có khả năng cạnh tranh quốc tế. Tỉnh cũng đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp ổn định trên 3-4%/năm và đảm bảo 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao theo tiêu chí mới giai đoạn 2026-2030.

Với tư duy đổi mới và quyết liệt trong hành động chuyển đổi mô hình sản xuất sang mô hình tăng trưởng nông nghiệp xanh, ít phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu, Quảng Ninh đang nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn theo hướng hiện đại.

Việc thực hiện quyết liệt Kết luận 219-KL/TW giúp Quảng Ninh bảo đảm an ninh lương thực, góp phần quan trọng vào chiến lược tăng trưởng xanh của tỉnh, biến nông thôn trở thành nơi đáng sống và người nông dân thực sự là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp./.

Duy Tùng

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/quang-ninh-nong-nghiep-xanh-huu-co-tuan-hoan-tro-thanh-tru-cot-phat-trien-ben-vung-15313.html