Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng: Giữ 'hồn làng' trong không gian đô thị mới
Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng đặt ra nguyên tắc bảo tồn lõi làng nghề truyền thống, các làng có giá trị kiến trúc, lịch sử, văn hóa; đồng thời, phân loại cụ thể những khu vực cần di dời, tái thiết hoặc cải tạo, chỉnh trang.

Làng nghề gốm Bát Tràng hình thành và phát triển bên sông Hồng, lưu giữ những giá trị nghề truyền thống qua nhiều thế hệ. Ảnh tư liệu
Những ngôi làng làm nên ký ức sông Hồng
Sông Hồng từ lâu đã là không gian cư trú, sinh kế và văn hóa của nhiều cộng đồng dân cư Hà Nội. Dọc hai bên sông là những làng xóm lâu đời như Nhật Tân, Tứ Liên, Bát Tràng, Kim Lan, Văn Đức, Tranh Khúc… Mỗi vùng đất mang theo những dấu ấn riêng về lịch sử, nghề truyền thống và nếp sống của cư dân ven sông.
Bởi vậy, khi Hà Nội tổ chức lại không gian hai bên sông Hồng, bài toán đặt ra không chỉ là xây dựng những gì mới, mà còn là những giá trị nào của làng cũ cần được gìn giữ trong quá trình đô thị hóa.
Theo báo cáo Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở), thành phố định hướng bảo tồn khu vực lõi của các làng nghề truyền thống, các làng có giá trị về kiến trúc, lịch sử, văn hóa vật thể và phi vật thể đã được công nhận, xếp hạng. Khu vực lõi của những làng xóm lâu đời nằm ngoài “phòng khách đô thị” cũng được giữ lại, cải tạo, chỉnh trang.
Điểm đáng chú ý là bảo tồn những làng nghề ven sông không đơn thuần là giữ lại hình hài một khu dân cư. Với những làng nghề còn sức sống như Bát Tràng, giá trị của làng gắn với không gian sản xuất, hoạt động thương mại, du lịch và cộng đồng những người đang tiếp tục thực hành, trao truyền nghề truyền thống.
Điều đó càng làm rõ yêu cầu phải tìm được điểm cân bằng giữa chỉnh trang đô thị và gìn giữ không gian văn hóa làng nghề. Trong phạm vi Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, Bát Tràng - Giang Cao - Kim Lan được xác định thuộc nhóm cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc; riêng khoảng 4,5ha phải di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ. Văn Đức - một làng thuộc xã Bát Tràng, cũng nằm trong nhóm cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc.
Nhìn rộng hơn về cách ứng xử với không gian ven sông, kiến trúc sư Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam cho rằng cần coi sông Hồng là một “tài sản đặc biệt” của Thủ đô; giá trị của dòng sông không chỉ nằm ở phòng, chống lũ, mà còn ở hệ sinh thái, cảnh quan và khả năng kết nối hai bờ.
Từ cách tiếp cận đó, quy hoạch không áp dụng một phương án chung cho tất cả các làng ven sông. Tùy điều kiện an toàn phòng, chống lũ, yêu cầu tổ chức không gian và giá trị cần bảo tồn, từng cụm làng được xác định theo hướng di dời, tái thiết hoặc cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc. Chính cách phân loại này sẽ quyết định những làng nào thay đổi mạnh, những làng nào được giữ lại và “hồn làng” sẽ hiện diện ra sao trong không gian đô thị mới.
Không phải tất cả các làng ven sông đều phải di dời
Điểm đáng chú ý trong phương án điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng là không áp dụng một cách xử lý đồng loạt đối với các làng, khu dân cư hiện hữu. Căn cứ yêu cầu bảo đảm an toàn phòng, chống, thoát lũ, phạm vi xây dựng các tuyến giao thông và mục tiêu tổ chức lại không gian đô thị, các cụm làng được phân thành ba nhóm: Di dời, tái thiết, bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc.
Trong đó, hai cụm thuộc diện di dời theo Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18-2-2016 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình. Đó là cụm Võng La - Hải Bối, thuộc các xã Thiên Lộc, Vĩnh Thanh và làng Bắc Cầu, phường Bồ Đề, rộng khoảng 35,5ha.
Với Võng La - Hải Bối, phương án không đặt vấn đề di dời toàn bộ làng. Chỉ phần dân cư không bảo đảm điều kiện an toàn phòng, chống lũ và phần nằm trong phạm vi xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng tại các thôn Võng La, Yên Hà, Hải Bối thuộc diện di dời. Đây là chi tiết quan trọng cho thấy việc tổ chức lại các khu dân cư được tính toán theo phạm vi cụ thể.
Nhóm thứ hai gồm hai cụm được xác định tái thiết để phục vụ mục tiêu kiến tạo khu vực “phòng khách đô thị” của Thủ đô và trục đại lộ cảnh quan. Cụ thể là Nhật Tân - Tứ Liên, phường Hồng Hà, khoảng 96ha và Thống Nhất (Hạ Trại, Trung Thôn), phường Long Biên, khoảng 12ha. Khu vực “phòng khách đô thị” được xác định ở phía ngoài đê hữu sông Hồng, bên trong Vành đai 2, đoạn từ cầu Nhật Tân đến cầu Vĩnh Tuy.
Đông đảo hơn cả là nhóm 8 cụm làng được bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc. Các cụm này phân bố từ Mê Linh, Vĩnh Thanh, Đông Anh đến Bát Tràng, Lĩnh Nam, Thanh Trì và Nam Phù. Trong đó, có những địa danh gắn với nghề và sản vật truyền thống của Hà Nội như Bát Tràng, Văn Đức, Tranh Khúc...
Việc được xác định thuộc nhóm bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang cũng không có nghĩa toàn bộ diện tích của các làng đều giữ nguyên hiện trạng. Những phần đất thuộc diện phải di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ, hoặc phải giải phóng mặt bằng để xây dựng hai tuyến trục đại lộ cảnh quan và các nút giao thông vẫn được loại trừ. Điển hình là cụm Bát Tràng - Giang Cao - Kim Lan dù thuộc nhóm bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc, vẫn có khoảng 4,5ha dự kiến phải di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ.

Làng đào Nhật Tân và vùng trồng quất Tứ Liên hiện vẫn duy trì hoạt động sản xuất truyền thống. Ảnh: Nhật Bắc
Bảo tồn không chỉ là giữ lại những mái nhà
Việc xác định những làng được giữ lại mới chỉ là bước đầu. Bài toán khó hơn là trong một không gian đô thị được tổ chức lại, những giá trị đã làm nên bản sắc của làng sẽ được gìn giữ và tiếp nối như thế nào.
Bát Tràng là trường hợp điển hình. Đây không chỉ là một khu dân cư lâu đời bên sông Hồng, mà còn là một làng nghề vẫn duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại và du lịch khá sôi động. Nghề gốm cùng những nghệ nhân, cơ sở sản xuất, không gian làng và đời sống cộng đồng tạo thành một chỉnh thể. Bát Tràng hiện cũng là một trong 4 làng nghề của Hà Nội tham gia Mạng lưới Các thành phố thủ công sáng tạo thế giới.
Bởi vậy, việc cụm Bát Tràng - Giang Cao - Kim Lan được định hướng cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc, dù khoảng 4,5ha phải di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ, cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn một số công trình, hay hình thức kiến trúc. Quan trọng hơn là duy trì được môi trường để nghề truyền thống và cộng đồng cư dân tiếp tục tồn tại trong cấu trúc đô thị mới.
Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam ví khu vực ven sông Hồng có thể trở thành một “bảo tàng sống” của Hà Nội - nơi kết nối các làng cổ, làng nghề, di tích, không gian nông nghiệp và những giá trị văn hóa được hình thành qua nhiều thế hệ cư dân. Theo ông, người dân ven sông cần trở thành chủ thể của quá trình phát triển, thậm chí có thể là những người kể câu chuyện về dòng sông, làng nghề và lịch sử địa phương, qua đó tham gia các hoạt động du lịch, dịch vụ và tạo sinh kế lâu dài.
Tinh thần này cũng đặt ra yêu cầu cụ thể đối với quy hoạch. Báo cáo điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng xác định, tại những làng được bảo tồn, giữ lại, cải tạo, chỉnh trang sẽ không tăng quy mô diện tích và dân số cơ học; mật độ xây dựng, tầng cao công trình được kiểm soát ở mức thấp; hình thức kiến trúc, cảnh quan phải phù hợp với không gian làng xã và bảo đảm vùng bảo vệ di tích.
