Quy hoạch thế kỷ và tầm nhìn phát triển xanh cho TP.HCM
Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị đã định hình rõ ràng tư duy quy hoạch 100 năm cho TP.HCM trước thách thức biến đổi khí hậu.
Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị đánh dấu một bước chuyển mình mang tính lịch sử trong tư duy phát triển của TP.HCM, nổi bật với tầm nhìn quy hoạch 100 năm và chiến lược đưa việc ứng phó biến đổi khí hậu vào vị trí trung tâm.
Để hiện thực hóa mục tiêu một siêu đô thị đa trung tâm, an toàn và phát triển bền vững, TP không chỉ cần giải bài toán liên kết vùng, nguồn lực tài chính mà còn phải kết hợp hài hòa giữa hạ tầng công trình cứng với các giải pháp mềm dựa vào tự nhiên.
Các chuyên gia đã đưa ra những phân tích đa chiều về nội dung quy hoạch phát triển TP với tầm nhìn dài hạn, ổn định, thích ứng với biến đổi khí hậu theo Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị.
Ông PHẠM BÌNH AN, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM:
Loại bỏ tình trạng chắp vá trong quy hoạch
Một trong những nội dung quan trọng nhất của Nghị quyết 09 là đề xuất quy hoạch tổng thể TP.HCM với tầm nhìn 100 năm. Đây là một thách thức lớn nhưng sẽ giúp loại bỏ tình trạng chắp vá trong các quy hoạch trước đây, khi thông thường quy hoạch chỉ kéo dài 15-20 năm.

Nghị quyết 09 không chỉ đưa ra các định hướng chung mà còn nêu rõ những giải pháp cụ thể bao gồm quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch xanh, quản lý sông nước, đầu tư hạ tầng chống ngập... Các giải pháp này đặc biệt quan trọng vì TP.HCM là một trong 10 đô thị chịu ảnh hưởng lớn nhất từ biến đổi khí hậu toàn cầu.

Việc tái khởi động dự án chống ngập 10.000 tỷ sẽ sớm phát huy hiệu quả kiểm soát ngập, hỗ trợ thoát nước mưa và cải thiện môi trường đô thị TP.HCM. Ảnh: THUẬN VĂN
Bên cạnh đó, hạ tầng kết nối được xác định là một điểm yếu trong phát triển của TP.HCM. Nghị quyết 09 đặt ra yêu cầu rõ ràng về: Phát triển giao thông công cộng, xây dựng đường sắt đô thị, nâng cấp cảng biển, phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng. Đây là một nội dung quan trọng để tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Ngoài ra, Nghị quyết 09 nêu rõ tư duy phát triển vùng. Một yêu cầu quan trọng là TP.HCM không thể phát triển bền vững một cách đơn lẻ mà phải tư duy theo hướng vùng, liên kết chặt chẽ với các địa phương xung quanh và giữ vai trò hạt nhân của TP.
Một ưu điểm rõ nét của nghị quyết là tính hệ thống và đồng bộ rất cao. Văn bản không chỉ đề cập đến quy hoạch mà còn liên kết với các chính sách tài chính, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên và nhiều vấn đề phát triển khác. Điều này giúp chuyển đổi từ các chính sách trên giấy sang các nội dung cụ thể, đồng bộ.
Tóm lại, Nghị quyết 09 được đánh giá cao về tính hệ thống, đồng bộ và tầm nhìn dài hạn, đặt ra một khung thể chế mạnh mẽ để giúp TP.HCM phát triển bền vững. Chúng ta có thể kỳ vọng là nghị quyết sẽ được tiếp nối bằng Luật đô thị đặc biệt, tạo thành một khung pháp lý toàn diện để hỗ trợ sự phát triển của TP trong tương lai.
Thành công của Nghị quyết 09 sẽ phụ thuộc vào khả năng giải quyết hai vấn đề chính: Huy động đủ nguồn lực tài chính và xây dựng năng lực quản trị mạnh mẽ để triển khai hiệu quả các nội dung đã được lập kế hoạch.
GS-TS NGUYỄN KIM LỢI, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu biến đổi khí hậu, Trường ĐH Nông Lâm, TP.HCM:
Phù hợp với xu thế phát triển của siêu đô thị
Điểm nổi bật của nghị quyết là chuyển mạnh tư duy phát triển đô thị từ “mở rộng đơn thuần” sang “phát triển tích hợp, đa trung tâm, thích ứng và có khả năng chống chịu cao”. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển của các siêu đô thị trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến các vùng ven biển và đô thị thấp như TP.HCM.
Nghị quyết không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà đã đặt TP.HCM vào tư duy quy hoạch thế kỷ, bảo đảm không gian phát triển dài hạn, dự báo rủi ro khí hậu, dịch chuyển dân cư, an ninh nguồn nước, hạ tầng chống ngập và năng lượng, khả năng cạnh tranh vùng và quốc tế. Đây là cách tiếp cận hiện đại, bởi các đô thị lớn hiện nay nếu chỉ quy hoạch ngắn hạn sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải, ngập lụt, ô nhiễm và suy giảm chất lượng sống.

Một trong những nội dung quan trọng nhất của Nghị quyết 09 là đề xuất quy hoạch tổng thể TP.HCM với tầm nhìn 100 năm. Ảnh: THUẬN VĂN
Quan điểm “đô thị đa cực - đa trung tâm” là rất đúng hướng. Việc phát triển các đô thị vệ tinh, đô thị sinh thái, đô thị thông minh và các trung tâm mới sẽ giúp giãn áp lực khu vực lõi trung tâm, tạo động lực tăng trưởng mới, phân bổ lại dân cư và lao động, tăng khả năng thích ứng biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu đã được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển là điểm nhấn quan trọng. TP.HCM là một trong những đô thị chịu ảnh hưởng lớn nhất của nước biển dâng, triều cường, sụt lún đất, ngập đô thị, xâm nhập mặn, cực đoan thời tiết. Trong khi đó, nghị quyết nhấn mạnh: Chống ngập quy mô lớn, quản lý tài nguyên nước, phát triển năng lượng tái tạo, hạ tầng xanh, phát triển ven sông, ven biển có kiểm soát. Điều này cho thấy định hướng phát triển đã chuyển từ “ứng phó bị động” sang “thích ứng chủ động và nâng cao khả năng chống chịu”.
Để hiện thực hóa nghị quyết, theo tôi có bốn thách thức lớn: Thứ nhất, nguồn lực tài chính, các dự án chống ngập, metro, cảng biển, TOD, hạ tầng năng lượng và đô thị vệ tinh đều cần nguồn vốn cực lớn và ổn định dài hạn. Thứ hai, năng lực quản trị và điều phối vùng, nếu vẫn quản lý theo tư duy cục bộ địa phương sẽ rất khó tạo được không gian phát triển tích hợp. Thứ ba, dữ liệu và chuyển đổi số đô thị, một đô thị đa trung tâm muốn vận hành hiệu quả cần nền tảng dữ liệu lớn, AI, GIS, quản trị thông minh và dự báo thời gian thực. Thứ tư là chất lượng nguồn nhân lực. TP.HCM cần đội ngũ chuyên gia mạnh về quy hoạch, biến đổi khí hậu, đô thị thông minh, logistics, AI, năng lượng tái tạo, quản trị công hiện đại. Trong đó, các trường ĐH phải đóng vai trò trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu chính sách phát triển vùng.
PGS-TS NGUYỄN HỒNG QUÂN, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ĐH Quốc gia TP.HCM):
Vai trò đầu tàu, trung tâm liên kết vùng của TP.HCM
Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới đã thể hiện bước tiến rõ về nhận thức và định hướng chính sách đối với vấn đề biến đổi khí hậu, khi đặt yêu cầu bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong tổng thể chiến lược phát triển của TP.

Điều này rất quan trọng bởi TP.HCM là đô thị lớn, đông dân, có địa hình thấp, mạng lưới sông ngòi dày đặc, đồng thời đang chịu tác động
ngày càng rõ của lượng mưa lớn, triều cường, ngập lụt, nắng nóng và nhiệt độ gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống, sinh kế và sức khỏe của người dân. Đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, sinh sống, làm việc tại khu vực ven sông, ven kênh rạch và vùng trũng thấp.

Đến cuối năm 2030, TP phấn đấu hoàn thành công tác di dời 50%, khoảng 20.000 căn nhà trên và ven sông, kênh rạch. Ảnh: THUẬN VĂN
Điểm đáng ghi nhận là nghị quyết không xem biến đổi khí hậu như một nội dung riêng lẻ của ngành tài nguyên và môi trường, mà lồng ghép nội dung này ngay trong quan điểm phát triển, mục tiêu dài hạn và các định hướng lớn về quy hoạch, hạ tầng, đô thị, năng lượng, tài nguyên nước và bảo vệ hệ sinh thái.
Có thể nói việc đưa yếu tố khí hậu lên tầm mục tiêu chiến lược dài hạn là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh hiện nay, khi các rủi ro khí hậu không còn mang tính thời điểm mà đã trở thành thách thức cấu trúc, tích lũy và kéo dài đối với tương lai của TP.
Một nội dung rất đáng chú ý của nghị quyết là yêu cầu xây dựng quy hoạch tổng thể TP với tầm nhìn 100 năm nhằm nâng cao năng lực chống chịu biến đổi khí hậu cho TP.HCM và toàn vùng.
Việc tổ chức không gian đô thị theo hướng ngầm, xanh, sông nước, biển, tầm thấp, tầm cao; gắn quy hoạch với quản lý tài nguyên nước, chống ngập nước, phát triển giao thông công cộng, đô thị nén và liên kết vùng là định hướng phù hợp với đặc điểm tự nhiên và áp lực khí hậu của TP. Nếu được cụ thể hóa tốt trong quy hoạch phân khu, quy hoạch ngành và trong lựa chọn dự án đầu tư, đây sẽ là nền tảng quan trọng giúp TP giảm thiểu tổn thương và tăng khả năng thích ứng trong dài hạn.
PGS-TS NGUYỄN HỒNG QUÂN, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ĐH Quốc gia TP.HCM)
Nghị quyết cũng đề cập khá rõ các nhóm giải pháp công trình lớn như hệ thống chống ngập quy mô lớn, cống ngăn triều, công trình thủy lợi ven sông, tăng cường hạ tầng ven biển, kiểm soát khai thác nước ngầm, bảo đảm an ninh nguồn nước và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn thiên nhiên. Đây là những nội dung cần thiết trong bối cảnh TP đã và đang chịu áp lực rất lớn của ngập lụt, triều cường, xâm nhập mặn, sụt lún và suy giảm chất lượng môi trường sống. Tuy nhiên, từ góc độ đánh giá chính sách, cũng cần nhấn mạnh rằng biến đổi khí hậu là vấn đề phức hợp, không thể chỉ dựa vào các dự án công trình lớn, dù các công trình này vẫn giữ vai trò quan trọng.
Trong giai đoạn tới, TP.HCM cần quan tâm nhiều hơn đến các giải pháp mềm và các giải pháp dựa vào tự nhiên để bổ sung, hỗ trợ và nâng cao hiệu quả của các công trình hạ tầng đã được đầu tư trước đây.

Phát triển giao thông công cộng, đô thị nén và liên kết vùng là định hướng phù hợp với đặc điểm tự nhiên và áp lực khí hậu của TP.HCM. ẢNH: THUẬN VĂN
Những giải pháp như phục hồi và mở rộng rừng ngập mặn Cần Giờ, bảo vệ hành lang sông và kênh rạch, gia tăng không gian xanh và mặt nước trong đô thị, khôi phục các vùng trữ nước tự nhiên, kiểm soát bê tông hóa bề mặt, quy hoạch sử dụng đất thích ứng với ngập và triều cường hay thúc đẩy mô hình khu dân cư xanh, công trình xanh, vật liệu xanh đều là những hướng đi cần được ưu tiên hơn trong quá trình triển khai nghị quyết. Đây là các giải pháp giúp nâng cao tính bền vững sinh thái, cải thiện vi khí hậu đô thị và tạo thêm lợi ích xã hội cho cộng đồng dân cư.
Ngoài ra, thích ứng với biến đổi khí hậu phải được xác định là nhiệm vụ của toàn xã hội. Trên tinh thần đó, quá trình cụ thể hóa nghị quyết nên chú trọng thêm các cơ chế huy động xã hội, khuyến khích đầu tư xanh, tăng cường giáo dục và truyền thông cộng đồng, phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, hệ thống cảnh báo sớm và các mô hình quản trị rủi ro khí hậu dựa vào cộng đồng.
Bên cạnh đó, ứng phó với biến đổi khí hậu của TP.HCM không thể tách rời khỏi không gian vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL, nơi cùng chia sẻ hệ thống sông ngòi, bờ biển, triều cường và xâm nhập mặn.
Để các định hướng đi vào cuộc sống, trong giai đoạn triển khai cần tiếp tục cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, chương trình hành động và cơ chế phối hợp đủ mạnh. Đồng thời, nhấn mạnh hơn tính dễ tổn thương của TP, vai trò tham gia của toàn xã hội cũng như yêu cầu chuyển dần từ cách tiếp cận nặng về công trình cứng sang kết hợp hài hòa giữa hạ tầng kỹ thuật, giải pháp mềm và các giải pháp dựa vào tự nhiên. Đây chính là hướng tiếp cận phù hợp để TP.HCM không chỉ ứng phó trước mắt mà còn xây dựng được một đô thị phát triển bền vững, an toàn và có khả năng chống chịu cao hơn trước các thách thức khí hậu trong tương lai.•
Nhiều giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu
Theo báo cáo của UBND TP.HCM, thời gian qua TP đã thực hiện nhiều giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu. Cụ thể, trong lĩnh vực nông nghiệp, thường xuyên theo dõi, điều tra, nắm bắt tình hình sinh vật hại mới trên đồng ruộng, cập nhật thông tin dự báo về khí hậu, thời tiết của các cơ quan chuyên môn để đề xuất, khuyến cáo các biện pháp phòng trừ sinh vật gây hại chủ yếu thông qua báo cáo tình hình sinh vật hại cây trồng hàng tuần, tháng. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa nhằm thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó, TP.HCM đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa hiệu quả thấp sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn.
Ngoài ra, TP còn thường xuyên rà soát, sửa đổi, xây dựng bổ sung các văn bản pháp luật về phòng, chống thiên tai trên địa bàn để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và kịp thời chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ phòng chống thiên tai đạt hiệu quả ở các cấp, các ngành.
Đối với mô hình bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu vực nhạy cảm với biến đổi khí hậu, TP đã tập trung triển khai các mô hình nhằm bảo vệ những vùng có tính đa dạng sinh học cao và dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, một số dữ liệu về diện tích áp dụng và kết quả thực hiện vẫn còn hạn chế, cần tiếp tục hoàn thiện và theo dõi.
Trong lĩnh vực tài nguyên nước, TP.HCM xác định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, ngưỡng khai thác nước dưới đất cho các khu vực, đề xuất áp dụng các biện pháp tích trữ nước, điều hòa phân phối nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả, hạn chế khai thác, sử dụng nước, chống suy thoái cạn kiệt nguồn nước theo từng cấp độ khan hiếm nước...
Nguồn PLO: https://plo.vn/quy-hoach-the-ky-va-tam-nhin-phat-trien-xanh-cho-tphcm-post911137.html











