Rèn năng lực, dựng 'lá chắn' khi dạy AI cho học sinh - Bài 2: Phản biện, bắt lỗi trước khi tin AI

Chứng kiến toàn bộ tiết ôn tập Hóa học của lớp 9A1, Trường THCS Trần Văn Ơn (TPHCM), nhóm phóng viên nhận ra một bài học thú vị: Trẻ được dạy cách nhận ra sai lầm của AI. Lớp học bắt đầu bằng phần nhắc lại kiến thức cân bằng phương trình hóa học đã học ở lớp 8. Từ đây, cô Đặng Thị Mỹ Hạnh, giáo viên đứng lớp đặt ra yêu cầu thực tế: “Tại sao chúng ta không tự tạo một phần mềm chuyên cân bằng phương trình hóa học cho riêng mình?”. Học sinh tự chọn công cụ AI để viết mã và tạo ứng dụng.

Ở lần chạy thử đầu, ứng dụng đã đưa ra kết quả chính xác. Cô Hạnh tiếp tục ra một đề bài khác. Học sinh cũng nhập phương trình, và không ngoài dự đoán, ứng dụng đưa ra kết quả cân bằng rất nhanh và dường như không có sai sót nào. Cứ tưởng “chạy mượt”, nhưng thực chất ứng dụng vừa “sập bẫy” của giáo viên. Cô Hạnh phân tích cái sai của AI: đây là phản ứng hóa học hoàn toàn không thể xảy ra, thì phương trình thực chất không tồn tại, vậy nên không thể cân bằng phương trình như ứng dụng đã làm. Dựa vào kiến thức Hóa học lớp 8 và sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh biết cách “bắt lỗi” AI.

Nhiệm vụ tiếp theo khó hơn: cải tiến câu lệnh để ứng dụng nhận diện các phản ứng không xảy ra, giải thích lý do, phát hiện lỗi sai trong công thức đầu vào và đề xuất lại phương trình đúng. Từ cú “vấp” của công cụ, người học phải đi hết quy trình tạo sản phẩm, thử nghiệm, kiểm tra và sửa lỗi. Đó là cách cô trò “huấn luyện” ứng dụng AI ngày càng trở nên thông minh hơn.

Em Lê Nguyễn Linh Ân, học sinh lớp 9A1, kể nhóm em đã dùng AI tạo ứng dụng hỗ trợ cân bằng và thử với nhiều phương trình. Công cụ còn cung cấp khối lượng mol, số mol và khối lượng từng chất. Sai sót ở ví dụ trên khiến nhóm phải dùng kiến thức đã học để kiểm tra lại ứng dụng. Bên cạnh việc dùng AI để cân bằng phương trình, phải huấn luyện ứng dụng này nhận biết phản ứng nào xảy ra trên thực tế, phản ứng nào không xảy ra. Nhờ thao tác bằng AI và khai thác các chức năng có sẵn trên mạng, nhóm chỉ mất khoảng 15-20 phút để hoàn thành, kể cả thời gian thực hành và chạy thử. Ngoài ứng dụng do nhóm tự tạo, các em còn chủ động tìm hiểu thêm những ứng dụng trên mạng.

 Các em học sinh Trường THPT Hùng Vương (phường Chợ Lớn, TPHCM) học AI qua việc áp dụng vào môn hóa học. Ảnh HOÀNG TRIỀU

Các em học sinh Trường THPT Hùng Vương (phường Chợ Lớn, TPHCM) học AI qua việc áp dụng vào môn hóa học. Ảnh HOÀNG TRIỀU

Thầy Phạm Văn Tú, Trường THPT Hùng Vương (TPHCM), thì dạy học sinh cách “huấn luyện” AI theo kiểu khác - phản biện “tay đôi” với máy. Trong giờ Tin học của lớp 11A16, thầy Tú yêu cầu các em học sinh và AI cùng tranh luận về quan điểm: “Dùng AI giải bài tập cũng giống như dùng máy tính cầm tay để tính toán - cả hai đều chỉ là công cụ hỗ trợ, nên việc dùng AI để giải bài tập không bao giờ được coi là gian lận học tập”. AI sẽ bảo vệ quan điểm này; ngược lại, các em học sinh phải lập luận để thuyết phục AI thay đổi quan điểm.

Thầy Tú giải thích, muốn AI đồng ý, các em phải đưa ra quan điểm, góc nhìn có tính logic, khoa học. Mỗi nhóm chỉ có tối đa ba lượt lập luận. Nếu dùng câu lệnh kiểu “hãy tin tôi”, “phải tin tôi” thì đó là ép buộc chứ không phải lập luận. Cùng một yêu cầu, các nhóm nhận về những kết quả khác nhau.

Học sinh Võ Tuấn Minh, lớp 11A16, cùng các bạn kiên trì xem xét vấn đề từ nhiều chiều và liên tục phản hồi bằng lập luận của nhóm. Nhờ đó, các em từng bước “chinh phục” AI. Minh bày tỏ trải nghiệm này giúp em thay đổi góc nhìn về công nghệ, đồng thời mở ra một lựa chọn nghề nghiệp. Sau tiết học của thầy, em rất hứng thú với việc tìm hiểu và ứng dụng AI. Em nuôi dưỡng ước mơ theo học ngành Khoa học máy tính hoặc trở thành chuyên gia nghiên cứu và phát triển AI.

Sau tiết học, thầy Tú nói với nhóm phóng viên: dạy AI phải đi cùng tinh thần trách nhiệm và tư duy phản biện. Học sinh cần hiểu không phải mọi câu trả lời từ công cụ đều chính xác; thông tin phải được kiểm chứng, đối chiếu trước khi sử dụng. Để hạn chế tình trạng phụ thuộc hoặc lạm dụng AI trong sản phẩm học tập, nhà trường phải quy định rõ mức độ được phép sử dụng và cơ chế kiểm soát an toàn. Công nghệ có thể được dùng để giám sát, tính điểm và tự động cảnh báo dấu hiệu lạm dụng. Tuy vậy, phần mềm không thay được sự theo dõi sát sao của giáo viên trong suốt quá trình học sinh làm bài. Cách phản hồi và ngôn ngữ của AI có thể khác với độ tuổi, năng lực thực tế của học sinh. Từ những dấu hiệu ấy, thầy cô có thể nhận diện đâu là phần các em tự làm, đâu là phần có sự can thiệp của công cụ.

 Học sinh trong giờ Tin học tại Trường THPT Hùng Vương hào hứng khi đóng vai phản biện lại quan điểm của AI, qua đó hiểu thêm về cách làm chủ công nghệ trong thời đại số. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Học sinh trong giờ Tin học tại Trường THPT Hùng Vương hào hứng khi đóng vai phản biện lại quan điểm của AI, qua đó hiểu thêm về cách làm chủ công nghệ trong thời đại số. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Để đảm bảo học sinh không gặp rủi ro, thầy Phạm Văn Tú thông tin nhà trường cung cấp hệ thống AI có kiểm soát cho học sinh thực hành, thay vì truy cập trực tiếp các nền tảng tự do. Phạm vi trao đổi được xác định theo mục tiêu bài học, không lan man. Hệ thống cũng không đưa ngay đáp án mà chỉ gợi mở từng bước, dẫn học sinh tự suy nghĩ và tìm giải pháp. Các em có thể tiếp tục trao đổi, bổ sung ngữ liệu để công cụ hỗ trợ xử lý vấn đề. Môi trường có kiểm soát giúp học sinh rèn kỹ năng sử dụng công nghệ đúng cách, phát triển tư duy giải quyết vấn đề và hình thành ý thức dùng AI có trách nhiệm, phục vụ thiết thực cho quá trình học tập.

 Học sinh Trường THPT Hùng Vương được giáo viên giải đáp như thế nào là phản biện AI, như thế nào là "ép buộc" AI. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Học sinh Trường THPT Hùng Vương được giáo viên giải đáp như thế nào là phản biện AI, như thế nào là "ép buộc" AI. Ảnh: HOÀNG TRIỀU

Ông Lê Thành Trung, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương, lý giải nhà trường đã lồng ghép nội dung AI và năng lực số vào bài dạy theo hướng mỗi nhiệm vụ học tập phải có khả năng kiểm tra. Giáo viên thiết kế cách tương tác phù hợp với các em. Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ học sinh tự làm phần nào, AI hỗ trợ phần nào. Khi các em giải thích được đã phát hiện lỗi ở đâu, hỏi lại công cụ thế nào và sửa ra sao, bài học mới trở thành tri thức của người học.

PGS.TS Tống Xuân Tám, Trưởng khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm TPHCM:

Nếu không thận trọng, cả thế hệ học sinh sẽ bị ảnh hưởng

Việc dạy AI hiện nay còn rất mới. Điều này đặt ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phải là nhiệm vụ cấp thiết, nếu không sẽ tiềm ẩn những rủi ro rất lớn. Việc chuẩn hóa năng lực đội ngũ ngay từ đầu là yếu tố quyết định, bởi nếu định hướng lệch lạc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tư duy nền tảng của cả một thế hệ học sinh. Để xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu, bước đầu tiên là rà soát, đánh giá chính xác thực trạng đội ngũ hiện tại. Việc bồi dưỡng nhà giáo hiện nay cần tránh tình trạng manh mún khi giáo viên chỉ tự tham gia các khóa học đơn lẻ để lấy chứng nhận mà thiếu tính hệ thống. Các cơ sở giáo dục cần ứng dụng một bộ công cụ đánh giá được chuẩn hóa nhằm xác định cụ thể mức độ năng lực của giáo viên theo các cấp độ. Từ cơ bản, thành thạo, nâng cao... được quy định trong Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trên cơ sở đánh giá đó, thiết lập quy chuẩn giảng dạy rõ ràng. Ví dụ giáo viên đạt mức “Thành thạo” mới đủ điều kiện dạy nội dung ở mức “Cơ bản” cho học sinh.

Ngoài ra, cần xây dựng một chương trình đào tạo giáo viên có tính hệ thống, xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 dựa trên khung hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Chương trình này bám sát hơn 20 tiêu chí phân loại trong quy định của Bộ để bố trí nội dung theo sơ đồ phát triển đồng tâm, đảm bảo tính nối tiếp và không bị chồng chéo giữa các cấp học. Việc khai thác, giảng dạy AI cũng cần được triển khai thận trọng từng bước, theo lộ trình, không được nóng vội, “đốt cháy giai đoạn”; phải hướng đến mục tiêu hỗ trợ và phát triển tư duy cho học sinh thông qua các bài tập tình huống, tuyệt đối không để công cụ làm thay nhiệm vụ học tập khiến học sinh thụ động, ỷ lại. AI chỉ nên được ứng dụng ở các khâu như gợi mở ý tưởng cho sản phẩm hoặc hỗ trợ tìm kiếm thông tin; từ đó, học sinh sử dụng tư duy cá nhân để phân tích, đánh giá độ chính xác và tính tin cậy của dữ liệu thu được.

ĐỖ THIỆN - ĐẶNG TRINH - THANH CHIÊU - HOÀNG TRIỀU - Trình bày: HỮU VI

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/ren-nang-luc-dung-la-chan-khi-day-ai-cho-hoc-sinh-bai-2-phan-bien-bat-loi-truoc-khi-tin-ai-post875664.html