Rối loạn mỡ máu: Cảnh báo nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ

Rối loạn mỡ máu (rối loạn chuyển hóa lipid máu) là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch phổ biến nhất hiện nay nhưng lại thường bị xem nhẹ. Nhiều người chỉ thực sự quan tâm khi biến cố nghiêm trọng như nhồi máu cơ tim hay đột quỵ xảy ra. Trong khi đó, nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách, tình trạng này hoàn toàn có thể kiểm soát hiệu quả.

Các bác sĩ Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam đang can thiệp đặt Stent cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim.

Các bác sĩ Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam đang can thiệp đặt Stent cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim.

Đã có nhiều trường hợp hiểu không đúng về rối loạn mỡ máu khiến tình trạng bệnh nặng hơn, gây nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ não.

Nguy cơ từ mỡ máu tăng cao

Ông Trần Mạnh T., 46 tuổi, từng được phát hiện tăng LDL-cholesterol trong một đợt khám sức khỏe định kỳ 3 năm trước. Do không có triệu chứng gì đặc biệt, ông cho rằng “mỡ máu hơi cao cũng không sao”, chỉ điều chỉnh ăn uống vài tuần rồi bỏ qua, không tái khám và không điều trị. Lần này, ông nhập viện tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam trong tình trạng đau ngực dữ dội. Chẩn đoán xác định là nhồi máu cơ tim cấp. Kết quả chụp mạch vành cho thấy tổn thương xơ vữa nặng, có huyết khối gây tắc cấp tính. Bệnh nhân đã được các bác sĩ đặt stent động mạch vành để tái thông chỗ tắc do mảng xơ vữa.

Trường hợp của ông T. không phải cá biệt. Xơ vữa động mạch tiến triển âm thầm trong nhiều năm. Khi mảng xơ vữa nứt vỡ, cục máu đông hình thành nhanh chóng, gây tắc mạch cấp tính - dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ. Điều đáng tiếc là nếu kiểm soát tốt LDL-cholesterol từ sớm, nguy cơ này có thể giảm đáng kể.

Bà Huỳnh Thị H., 60 tuổi, có tiền sử rối loạn lipid máu và đang điều trị đều đặn. Sau một thời gian dùng thuốc, xét nghiệm cho kết quả các chỉ số lipid trở về mức mục tiêu. Nghĩ rằng mình đã “khỏi bệnh”, bà tự ý ngưng thuốc mà không tái khám trong vòng hơn 2 năm nay. Lần này bà được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam trong tình trạng liệt nửa người trái, méo miệng, được chẩn đoán đột quỵ não do tắc mạch. Xét nghiệm cho thấy LDL-cholesterol tăng cao trở lại.

Rối loạn lipid máu thường là bệnh lý mạn tính. Thuốc không phải để “chữa khỏi” hoàn toàn mà nhằm duy trì các chỉ số ở mức an toàn lâu dài, phòng ngừa biến cố tim mạch. Việc tự ý ngưng thuốc khiến mỡ máu tăng trở lại, làm mất hiệu quả bảo vệ tim mạch trước đó.

Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức

Nhiều người nghĩ rằng "chỉ xét nghiệm máu một lần là đủ" là sai. Các chỉ số lipid máu có thể thay đổi theo thời gian, chịu ảnh hưởng của chế độ ăn, vận động, bệnh lý đi kèm và thuốc. Người có yếu tố nguy cơ tim mạch cần theo dõi định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ.

Chỉ cần nhìn Cholesterol toàn phần là chưa đủ. LDL-cholesterol mới là mục tiêu điều trị chính vì liên quan trực tiếp đến xơ vữa động mạch. HDL-C thấp và triglyceride cao cũng góp phần gia tăng nguy cơ. Đánh giá nguy cơ tim mạch phải dựa trên toàn bộ hồ sơ lipid và các yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá…

Rối loạn lipid máu có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả người trẻ, đặc biệt trong bối cảnh lối sống ít vận động, ăn nhiều chất béo bão hòa, đường và thức ăn nhanh. Một số trường hợp có yếu tố di truyền còn xuất hiện từ rất sớm.

Việc điều trị hiệu quả đòi hỏi kết hợp giữa thuốc (khi có chỉ định) và thay đổi lối sống: ăn uống lành mạnh, giảm chất béo bão hòa, tăng rau xanh - cá - ngũ cốc nguyên hạt, tập thể dục đều đặn, kiểm soát cân nặng, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia.

Một quan niệm sai lầm khác là khi các chỉ số lipid máu đã về bình thường thì có thể ngừng thuốc ngay. Trên thực tế, rối loạn lipid máu thường là một tình trạng mạn tính. Việc dùng thuốc nhằm duy trì các chỉ số ở mức an toàn để phòng ngừa biến cố tim mạch. Khi tự ý ngưng thuốc, mỡ máu có thể tăng trở lại, làm mất đi hiệu quả điều trị và gia tăng nguy cơ biến chứng. Việc điều chỉnh liều hoặc ngừng thuốc cần được thực hiện dưới sự theo dõi và chỉ định của bác sĩ.

Các nghiên cứu lớn trên thế giới cho thấy lợi ích của statin trong giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong tim mạch vượt trội so với nguy cơ tác dụng phụ, vốn hiếm gặp và thường có thể kiểm soát. Như vậy, dùng thuốc điều trị tăng mỡ máu mang lại lợi ích cao hơn rất nhiều so với nguy cơ tác dụng phụ.

Rối loạn mỡ máu là “kẻ thầm lặng” nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát được. Điều quan trọng cần tầm soát định kỳ, đặc biệt ở người trên 40 tuổi hoặc có yếu tố nguy cơ. Đánh giá toàn diện nguy cơ tim mạch thay vì chỉ nhìn vào một chỉ số. Tuân thủ điều trị lâu dài theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Duy trì lối sống, ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn, duy trì cân nặng hợp lý...

Mỡ máu không hoàn toàn “xấu”

Mỡ máu bao gồm cholesterol và triglyceride - những thành phần thiết yếu cho cơ thể. Cholesterol tham gia cấu tạo màng tế bào, sản xuất hormone, vitamin D và acid mật. Triglyceride là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng.

Cholesterol được vận chuyển trong máu chủ yếu dưới hai dạng. Bao gồm LDL-cholesterol (“cholesterol xấu”) khi tăng cao, dễ lắng đọng vào thành mạch, hình thành mảng xơ vữa. HDL-cholesterol (“cholesterol tốt”) có vai trò thu gom cholesterol dư thừa đưa về gan xử lý.

Rối loạn lipid máu xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa các thành phần này: tăng LDL-C, tăng triglyceride, giảm HDL-C hoặc phối hợp nhiều rối loạn. Hậu quả lâu dài là xơ vữa động mạch - quá trình âm thầm nhưng có thể dẫn đến các biến cố nguy hiểm như nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

BSCKII. NGUYỄN LƯƠNG QUANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/roi-loan-mo-mau-canh-bao-nguy-co-nhoi-mau-co-tim-va-dot-quy-3326749.html