Siết chặt bản quyền: Vẫn còn một câu hỏi lớn hơn
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả trên nền tảng số đang được xử lý nghiêm đã tạo ra một tín hiệu mừng nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết tận gốc.

Theo ông Nguyễn Tiến Huy - CEO của Pencil Group việc khởi tố các vụ vi phạm bản quyền là bước đi quan trọng nhưng chưa đủ để giải quyết tận gốc vấn đề. Thực chất, thách thức lớn nhất nằm ở hạ tầng xác thực quyền sở hữu trên nền tảng số. Các hệ thống như Content ID hiện nay vẫn vận hành theo logic “đăng ký trước thì được bảo vệ”, thay vì “người sáng tạo thật sự được ghi nhận và hưởng quyền lợi”. Nếu không có một cơ chế minh bạch hơn, do chính Việt Nam chủ động xây dựng hoặc ít nhất có khả năng kiểm soát, thì nguy cơ tái diễn các mô hình khai thác lách luật là điều khó tránh khỏi, dù tên gọi có thể thay đổi.
Ông Huy cho rằng, điều doanh nghiệp sáng tạo cần không chỉ là các vụ xử lý mang tính răn đe, mà là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, nơi quyền sở hữu được xác lập rõ ràng, giá trị sáng tạo được định giá đúng và dòng tiền từ khai thác nội dung chảy về đúng chủ thể. Khi đó, thực thi pháp luật mới thực sự chuyển hóa thành động lực phát triển, thay vì chỉ dừng ở việc xử lý vi phạm đơn lẻ.
Cũng theo LS. Phạm Ngọc Hưng - Giám đốc Công ty Luật TNHH Phạm Hưng, Việt Nam về cơ bản đã có khung pháp luật về Sở hữu trí tuệ (SHTT) tiệm cận với chuẩn quốc tế, đặc biệt sau quá trình tham gia các hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, điểm nghẽn không nằm ở luật “có hay không”, mà nằm ở khâu thực thi và thủ tục. Theo ông, việc đăng ký, bảo hộ và xử lý tranh chấp hiện vẫn còn phức tạp, thiếu tính hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp. Thực tế, để đăng ký một nhãn hiệu hay sáng chế, doanh nghiệp phải đi qua nhiều tầng nấc: tra cứu, nộp đơn, thẩm định hình thức, công bố, thẩm định nội dung… kéo dài, thậm chí lâu hơn nếu phát sinh khiếu nại. Trong quá trình đó, doanh nghiệp cũng vẫn phải “tự bơi” vì thiếu cơ chế tư vấn chính thức. Chi phí không chỉ là lệ phí mà còn là thời gian, cơ hội thị trường bị bỏ lỡ.
Từ đó, yêu cầu đặt ra không phải là sửa luật theo hướng phức tạp hơn, mà là cắt bỏ những khâu trung gian không cần thiết, rút ngắn thời gian thẩm định, chuẩn hóa tiêu chí xét duyệt và thiết lập cơ chế “một cửa” có tư vấn thực chất. Chỉ khi thủ tục đủ gọn và đủ rõ, quyền sở hữu trí tuệ mới thực sự trở thành công cụ bảo vệ và tạo giá trị, thay vì là một gánh nặng hành chính. Đồng thời mở rộng khả năng bảo hộ ra phạm vi quốc tế trong bối cảnh doanh nghiệp Việt ngày càng tham gia sâu vào xuất khẩu và chuỗi cung ứng toàn cầu, việc chỉ bảo vệ trong nước là không đủ.
Luật sư Hưng cho rằng doanh nghiệp nhỏ không nên tự “gồng mình” xây bộ phận sở hữu trí tuệ, vì chi phí lớn mà hiệu quả không cao. Thay vào đó, cần sử dụng các tổ chức dịch vụ chuyên nghiệp để thực hiện trọn gói từ đăng ký, theo dõi đến xử lý tranh chấp, vừa tiết kiệm vừa đúng chuyên môn. Ở chiều ngược lại, vấn đề hiện nay nằm ở năng lực hệ thống hỗ trợ. Số lượng chuyên gia đủ trình độ để thẩm định các yếu tố như khả năng gây nhầm lẫn của nhãn hiệu còn rất hạn chế, dẫn đến việc xử lý kéo dài và thiếu nhất quán khi có tranh chấp. Vì vậy, nhà nước cần mở rộng các tổ chức trung gian như trung tâm nghiên cứu, giám định SHTT, đồng thời tăng nguồn nhân lực chuyên sâu để hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Ở góc nhìn thực tiễn quản trị doanh nghiệp, PGS-TS. Từ Diệp Công Thành - Giám đốc Trung tâm SHTT và Chuyển giao Công nghệ, Đại học Quốc gia TP.HCM cho rằng, nhiều doanh nghiệp chưa hình dung đầy đủ rằng các tài sản vô hình như thương hiệu, công thức, thiết kế, dữ liệu hay nội dung truyền thông đều có thể trở thành tài sản bị xâm phạm hoặc bị khai thác trái phép nếu không được quản trị đúng cách.
Theo ông, để bảo vệ quyền SHTT, doanh nghiệp cần đi theo một quy trình cơ bản nhưng chặt chẽ: Nhận diện được đâu là tài sản trí tuệ của mình, từ sản phẩm, công thức, quy trình đến dữ liệu và nội dung sáng tạo; Đánh giá mức độ quan trọng và rủi ro xâm phạm của từng loại tài sản, tránh tình trạng “có nhưng không biết là có”, dẫn đến mất quyền kiểm soát ngay từ giai đoạn đầu và xác lập cơ chế bảo hộ phù hợp, phân loại giữa cái nên đăng ký bảo hộ pháp lý và cái nên giữ dưới dạng bí mật kinh doanh; xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ, từ việc sử dụng dữ liệu, hình ảnh, phần mềm đến hành vi của nhân sự, nhằm hạn chế thất thoát tài sản trí tuệ một cách vô thức trong vận hành hàng ngày; cuối cùng là khai thác và thực thi quyền. Nghĩa là không chỉ giữ quyền trên giấy tờ, mà phải biến quyền đó thành lợi thế thương mại, thông qua chuyển giao, nhượng quyền, cấp phép hoặc phát triển thị trường. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải chủ động theo dõi và xử lý hành vi xâm phạm từ bên ngoài, thay vì chỉ phản ứng khi sự việc đã xảy ra.
Khảo sát hiện trạng thực tế từ Liên minh Chống vi phạm bản quyền (CAP) phối hợp cùng Data.ai ghi nhận tính đến đầu năm 2026, Việt Nam có khoảng 15,5 triệu người dùng thường xuyên truy cập các nền tảng nội dung "lậu". Đây là con số cao kỷ lục, cho thấy sự phổ biến của các hành vi xâm phạm nội dung số bất chấp các nỗ lực ngăn chặn về mặt kỹ thuật của các cơ quan quản lý.
Theo báo cáo thống kê của Liên minh Phần mềm (BSA) cuối năm 2025, tỷ lệ sử dụng phần mềm không bản quyền trong các tổ chức tại Việt Nam vẫn duy trì ở mức 62%, cao hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Nguồn DNSG: https://doanhnhansaigon.vn/siet-chat-ban-quyen-van-con-mot-cau-hoi-lon-hon-336676.html











