Siết đào tạo giáo viên: Trường sư phạm cũng đa ngành, biết 'lọc' ai?
(NB&CL) Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng thu gọn đầu mối, chấm dứt tình trạng đào tạo sư phạm ở các trường không phải trường sư phạm, kém chất lượng. Về vấn đề này, chuyên gia cho rằng việc sắp xếp cần dựa trên năng lực và chất lượng đào tạo, thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của cơ sở.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)
Theo Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 452/QĐ-TTg, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đào tạo giáo viên được định hướng quy mô 180.000-200.000 người học, tại khoảng 48-50 cơ sở.
Trong đó, 2 trường đại học sư phạm trọng điểm cùng 12 cơ sở giáo dục đại học khác dự kiến đảm nhận khoảng 64% quy mô đào tạo giáo viên. Khoảng 30% thuộc các trường đại học trực thuộc UBND cấp tỉnh và một số cơ sở công lập có truyền thống đào tạo sư phạm, chủ yếu phục vụ nhu cầu nhân lực của địa phương. Khoảng 6% dành cho các cơ sở có thế mạnh về công nghệ, nông lâm, ngôn ngữ, thể dục thể thao và nghệ thuật để đào tạo giáo viên các ngành đặc thù.
Quy hoạch xác định Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm TP.HCM là hai cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia về sư phạm, giữ vai trò hạt nhân, đầu tàu trong mạng lưới.
Trong khi đó, các trường đại học sư phạm thể dục thể thao, nghệ thuật và cao đẳng sư phạm được định hướng sắp xếp, tổ chức lại. Các trường đại học sư phạm kỹ thuật được tái cấu trúc thành cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, trọng tâm là công nghệ và kỹ thuật, nhưng vẫn tiếp tục đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục nghề nghiệp.

Thí sinh tham dự kỳ thi năng khiếu Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2026.
Như vậy, quy hoạch không đặt đào tạo giáo viên hoàn toàn trong các trường chuyên sư phạm mà vẫn dành vai trò cho các đại học quốc gia, đại học vùng, đại học địa phương và những cơ sở có thế mạnh chuyên ngành.
Không thể chỉ nhìn tên trường
Theo TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT), tinh thần của việc sắp xếp là bảo đảm giáo viên được đào tạo bài bản, đúng chuẩn, trong môi trường có tính sư phạm và đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
Tuy nhiên, ông cho rằng quá trình rà soát cần đánh giá cụ thể từng cơ sở thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi.
“Phải đánh giá cụ thể xem trường nào đào tạo ngành sư phạm, chất lượng đầu ra như thế nào, từ đó mới có chính sách phù hợp và ưu tiên đúng chỗ”, ông Vinh nói.
Theo chuyên gia, chất lượng cần được xem xét từ năng lực sinh viên sau tốt nghiệp, khả năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, đội ngũ giảng viên và môi trường đào tạo.
Thực tế, ranh giới giữa “trường sư phạm” và “trường đa ngành có đào tạo sư phạm” ngày càng không đơn giản. Nhiều cơ sở từng chuyên đào tạo giáo viên đã chuyển sang mô hình đa ngành, trong khi các trường mang tên sư phạm cũng mở rộng mạnh sang lĩnh vực ngoài đào tạo giáo viên.
Đơn cử, năm 2026, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tuyển sinh 58 ngành, chương trình đào tạo, trong đó có nhiều ngành ngoài sư phạm như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, quốc tế học, hóa dược...
“Khi một trường có sứ mệnh đào tạo giáo viên, cần xác định rõ sứ mệnh cốt lõi, đồng thời xem xét việc mở rộng sang các lĩnh vực khác có ảnh hưởng đến chất lượng và bản sắc sư phạm hay không”, TS Vinh nhấn mạnh.
Không nên “đóng khung” đào tạo giáo viên
TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho rằng, việc tổ chức lại mạng lưới cần tính đến đặc điểm dân số, vùng miền và nhu cầu giáo viên của từng địa phương.
Dù biên chế giáo viên đã tăng và tỷ lệ học sinh/giáo viên được cải thiện, tình trạng giáo sinh khó tìm việc vẫn tồn tại. Đáng chú ý, sự mất cân đối diễn ra không đồng đều: có nơi thừa giáo viên môn này nhưng thiếu môn khác; địa phương này thiếu trong khi nơi khác lại dư thừa.
Vì vậy, nếu xây dựng một hệ thống đào tạo giáo viên quá tập trung, chỉ xoay quanh một số trường sư phạm trọng điểm và các phân hiệu, sẽ khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhân lực khác nhau giữa các địa phương.
TS Khuyến cho biết, với quy mô dân số hơn 100 triệu người, gần 27 triệu học sinh và đặc điểm vùng miền phức tạp, mạng lưới đào tạo giáo viên cần được phân tầng, phân cấp, gồm các trường trọng điểm, trường trung ương và cơ sở đào tạo của địa phương.
“Chỉ nhằm tập trung quyền lực cao nhất vào trung ương, không phân cấp cho các địa phương, sẽ rất khó triển khai chủ trương đặt hàng đào tạo giáo viên cho các địa phương”, ông nhận định.
Theo TS Khuyến, cũng không nên bỏ qua năng lực của các trường đại học đa ngành. Một số cơ sở có thế mạnh nghiên cứu về khoa học cơ bản, công nghệ, ngôn ngữ, nghệ thuật hay thể thao có thể đóng góp vào đào tạo giáo viên ở những lĩnh vực đặc thù.
Đủ điều kiện mới được đào tạo
TS Khuyến cũng cho rằng không nên hiểu chủ trương mới theo hướng xóa bỏ hoàn toàn đào tạo giáo viên tại các trường đa ngành.
Bởi những cơ sở có truyền thống đào tạo sư phạm, đội ngũ giảng viên chất lượng và hệ sinh thái đào tạo phù hợp cần tiếp tục được duy trì nếu đáp ứng các điều kiện cần thiết.
Ông dẫn các cơ sở như Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, khoa sư phạm của Trường Đại học Cần Thơ hay Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) là những nơi đã có quá trình đào tạo giáo viên bài bản.
“Tôi không đồng ý với việc bỏ đào tạo giáo viên ở các cơ sở này. Tuy nhiên, điều kiện đặt ra là phải bảo đảm chất lượng đào tạo các môn thuộc khối sư phạm và vận hành được hệ thống trường phổ thông thực nghiệm”, chuyên gia này nêu.
Với các trường đại học địa phương hoặc cơ sở đa ngành, theo TS Khuyến, việc được đào tạo giáo viên cần gắn với những điều kiện cụ thể về đội ngũ, chương trình, cơ sở thực hành, năng lực nghiên cứu và chất lượng đầu ra.
“Hệ ngoài sư phạm có cái ích lợi của nó. Các cơ sở này đòi hỏi sự chuyên sâu về nghiên cứu và phát triển ứng dụng, qua đó tạo môi trường để giảng viên đại học nghiên cứu, phát triển chuyên môn. Vì vậy, vấn đề không phải là xóa bỏ hoàn toàn mà là phải xác định rõ cơ sở nào đủ điều kiện, năng lực và hệ sinh thái cần thiết thì mới được đào tạo giáo viên”, ông phân tích.
