Siết quản lý mã số vùng trồng hướng đến xuất khẩu

Bối cảnh thị trường nông sản ngày càng yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn chất lượng. Việc cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và kiểm nghiệm được xem là 'tấm hộ chiếu' để nông sản tỉnh hướng tới xuất khẩu. Dù còn nhiều khó khăn về quy mô sản xuất, hạ tầng kiểm nghiệm và năng lực tổ chức sản xuất, công tác xây dựng, quản lý mã số vùng trồng đang từng bước triển khai đồng bộ, tạo nền tảng nâng cao giá trị nông sản địa phương.

Những năm gần đây, cùng với phát triển nông nghiệp hàng hóa, Điện Biên chú trọng xây dựng các vùng sản xuất tập trung đối với lúa gạo, cà phê, chè, cây ăn quả và mắc ca... Tuy nhiên, để nông sản có thể tham gia sâu vào thị trường trong nước và xuất khẩu, yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và cơ sở kiểm nghiệm trở thành điều kiện bắt buộc. Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND xã, phường rà soát các vùng sản xuất tập trung, sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Đến nay, toàn tỉnh đã cấp 16 mã số vùng trồng nội địa với tổng diện tích 75,6ha. Trong đó có 7 mã số vùng trồng cây ăn quả với diện tích 25,5ha tại phường Mường Thanh và các xã: Mường Nhà, Thanh Yên, Thanh An, Pú Nhung; 1 mã số vùng trồng chè diện tích 16ha tại xã Mường Lạn; 6 mã số vùng trồng cà phê diện tích 9,1ha tại xã Mường Ảng và Quài Tở; 1 mã số vùng trồng mắc ca diện tích 15ha tại xã Tuần Giáo và 1 mã số vùng trồng lúa diện tích 10ha tại phường Mường Lay.

Anh Thào A Giàng, Giám đốc Hợp tác xã Dứa Mường Nhà hướng dẫn người dân chăm sóc dứa.

Anh Thào A Giàng, Giám đốc Hợp tác xã Dứa Mường Nhà hướng dẫn người dân chăm sóc dứa.

Tại nhiều vùng sản xuất, việc được cấp mã số vùng trồng đã góp phần thay đổi nhận thức của người dân về quy trình sản xuất nông nghiệp sạch. Người dân bắt đầu quen với việc ghi chép nhật ký đồng ruộng, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật. Anh Thào A Giàng, Giám đốc Hợp tác xã Dứa Mường Nhà cho biết, hợp tác xã có hơn 10ha dứa được cấp mã số vùng trồng. Trước đây bà con chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, ít quan tâm ghi chép hay truy xuất nguồn gốc. Khi được cấp mã số vùng trồng, chúng tôi được hướng dẫn cụ thể từ khâu chăm sóc đến thu hoạch.

Không chỉ giúp chuẩn hóa quy trình sản xuất, mã số vùng trồng còn góp phần nâng cao giá trị nông sản. Hiện nay, tỉnh từng bước xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, gắn với liên kết tiêu thụ và chế biến. Hiện toàn tỉnh có hơn 4.159ha cây ăn quả, hơn 12.000ha mắc ca, trên 8.000ha cà phê và hơn 4.000ha lúa chất lượng cao trên cánh đồng Mường Thanh… Đây là tiền đề quan trọng để mở rộng diện tích vùng trồng đủ điều kiện cấp mã số vùng trồng.

Dù vậy, quá trình triển khai cấp mã số vùng trồng trên thực tế còn nhiều trở ngại. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Nhiều vùng cây trồng chưa đáp ứng yêu cầu về diện tích tối thiểu theo quy định đối với cây lâu năm. Việc liên kết sản xuất giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thiếu chặt chẽ, dẫn tới khó duy trì tính đồng nhất của vùng nguyên liệu. Bên cạnh đó, nhận thức và năng lực thực hiện các yêu cầu kỹ thuật của một bộ phận người dân, hợp tác xã còn hạn chế.

Mô hình trồng cam ruột đỏ của Công ty TNHH Cara Farm Việt Nam, bản Bo Hóng, phường Mường Thanh được cấp mã số vùng trồng.

Mô hình trồng cam ruột đỏ của Công ty TNHH Cara Farm Việt Nam, bản Bo Hóng, phường Mường Thanh được cấp mã số vùng trồng.

Bà Nguyễn Mỹ Linh, Giám đốc Công ty TNHH Hương Linh Điện Biên cho biết: “Khó nhất hiện nay là thay đổi tư duy, tập quán sản xuất của người dân. Để xây dựng và duy trì mã số vùng trồng cần sự đồng đều trong quy trình canh tác của tất cả các hộ tham gia. Chỉ cần một hộ không tuân thủ quy định cũng có thể ảnh hưởng đến cả vùng nguyên liệu”. Theo bà Linh, riêng tại khu vực Tủa Chùa cũ hiện có hơn 600ha chè cổ thụ Shan tuyết. Đây là tiềm năng lớn để phát triển vùng nguyên liệu chè chất lượng cao gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu.

Một thực tế khác là đến nay Điện Biên chưa được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/01/2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND các xã, phường tổ chức rà soát, hướng dẫn chuyển đổi các mã số vùng trồng đã được cấp và triển khai cấp mới theo quy định. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh chưa có mã số vùng trồng thực hiện chuyển đổi.

Nguyên nhân do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; nhiều vùng trồng chưa đáp ứng yêu cầu về diện tích (10ha trở lên đối với cây lâu năm), tính liên kết và tính đồng nhất theo quy định. Việc tổ chức sản xuất theo quy trình đồng bộ, ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc của một số tổ chức, cá nhân còn hạn chế. Nhận thức và năng lực thực hiện yêu cầu kỹ thuật về mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc của một bộ phận doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân chưa đảm bảo. Thiếu nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý, kiểm tra, giám sát mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói...

Xã Mường Ảng và Quài Tở có 9,1ha cà phê được cấp mã số vùng trồng. Trong ảnh: Người dân xã Mường Ảng thu hoạch cà phê.

Xã Mường Ảng và Quài Tở có 9,1ha cà phê được cấp mã số vùng trồng. Trong ảnh: Người dân xã Mường Ảng thu hoạch cà phê.

Một trong những khó khăn lớn hiện nay là tỉnh chưa có phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản được cơ quan có thẩm quyền chỉ định. Toàn bộ mẫu phân tích phục vụ công tác cấp mã số vùng trồng và kiểm tra an toàn thực phẩm đều phải gửi ra ngoài tỉnh, chủ yếu tại Hà Nội. Việc này khiến thời gian trả kết quả kéo dài, chi phí tăng cao, ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thiện hồ sơ cấp mã số cũng như công tác giám sát sau cấp mã số. Không ít hợp tác xã, doanh nghiệp phải chờ nhiều ngày để có kết quả kiểm nghiệm, làm lỡ thời điểm ký kết hợp đồng tiêu thụ.

Trước những khó khăn đó, UBND tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương, hợp tác xã và doanh nghiệp; đồng thời quan tâm đầu tư xây dựng phòng kiểm nghiệm nông sản, thủy sản đạt chuẩn ngay tại tỉnh để phục vụ công tác kiểm nghiệm mẫu đất, mẫu nước, mẫu nông sản. Tỉnh đề xuất hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm; tăng cường hướng dẫn chuyên môn nhằm bảo đảm việc quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện thống nhất, hiệu quả.

Mã số vùng trồng không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chìa khóa mở cánh cửa cho nông sản Điện Biên vươn tới những thị trường có giá trị cao, xuất khẩu. Hành trình xây dựng và quản lý mã số vùng trồng còn nhiều khó khăn, nhưng với sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, những vùng nguyên liệu đạt chuẩn sẽ tiếp tục được mở rộng. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, xây dựng thương hiệu và thúc đẩy xuất khẩu bền vững trong tương lai.

Bài, ảnh: Quốc Huy

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/kinh-te/siet-quan-ly-ma-so-vung-trong-huong-den-xuat-khau