Số hóa toàn diện, mở rộng không gian kinh doanh hàng miễn thuế

Sau 6 năm thực hiện, chính sách về kinh doanh hàng miễn thuế đã bộc lộ nhiều bất cập. Bộ Tài chính đang dự thảo sửa đổi hướng tới số hóa thủ tục, giảm giấy tờ, đồng thời mở rộng không gian kinh doanh và siết quản lý theo hướng hiện đại.

Cần thiết để tăng sức cạnh tranh

Bộ Tài chính đang trong quá trình hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 100/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế (Nghị định 100).

Thực tế cho thấy, nhu cầu mua sắm hàng miễn thuế tại Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt với khách quốc tế. Theo đánh giá từ chị Aribeth Gu (khách du lịch Hoa Kỳ), hệ thống cửa hàng miễn thuế tại các sân bay quốc tế của Việt Nam đã tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế, với sự hiện diện của nhiều thương hiệu cao cấp và quy trình mua sắm tương đối thuận tiện. Tuy nhiên, so với một số quốc gia trong khu vực, định mức mua hàng còn thấp và thủ tục chưa được điện tử hóa hoàn toàn, ảnh hưởng nhất định đến trải nghiệm của khách hàng.

 Cần có cơ chế kiểm tra đối với trường hợp hàng hóa đã thanh toán nhưng không nhận tại khu cách ly - một lỗ hổng từng bị lợi dụng trong thực tế. Ảnh: Văn Tá

Cần có cơ chế kiểm tra đối với trường hợp hàng hóa đã thanh toán nhưng không nhận tại khu cách ly - một lỗ hổng từng bị lợi dụng trong thực tế. Ảnh: Văn Tá

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Trần Thị Yến Nhi - Chi nhánh Công ty TNHH Hàng miễn thuế Jalux Taseco tại TP. Hồ Chí Minh cho rằng quy định về định mức mua hàng hiện nay vẫn là điểm nghẽn lớn. Khi so sánh với các nước lân cận có mức ưu đãi cao hơn, nhiều du khách có xu hướng hạn chế mua sắm tại Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu điều chỉnh định mức theo hướng phù hợp với thực tiễn là cần thiết để tăng sức cạnh tranh.

Bên cạnh đó, hệ thống thủ tục hiện hành vẫn tồn tại không ít bất cập. Một số quy trình còn yêu cầu chứng từ giấy, chưa tận dụng tối đa nền tảng quản lý điện tử đã được triển khai. Công tác giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển giữa kho chứa và tàu bay còn thiếu thống nhất; phương thức quản lý giữa các kho trong và ngoài khu cách ly chưa được quy định rõ ràng, gây khó khăn trong thực hiện.

Đáng chú ý, ông Nguyễn Xuân Huy - Phó Đội trưởng Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cho hay, quy định về bản chất hàng hóa nhập khẩu bán tại cửa hàng miễn thuế chưa được làm rõ, dẫn đến vướng mắc trong chính sách thuế, đặc biệt liên quan đến thuế giá trị gia tăng. Phía hải quan cho rằng, cần xác định rõ đây là hàng tạm nhập - tái xuất và không thuộc diện chịu thuế để thống nhất cách áp dụng.

Ngoài ra, quy trình giám sát tại cửa hàng miễn thuế hiện vẫn chưa đồng bộ, tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để thẩm lậu hàng hóa vào nội địa. Điều này đặt ra yêu cầu vừa đơn giản hóa thủ tục, vừa tăng cường kiểm soát hiệu quả nhằm bảo đảm kỷ cương quản lý.

Nâng cấp quản trị theo dữ liệu số

Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo Nghị định là việc chuẩn hóa thuật ngữ và mở rộng phạm vi hoạt động của hệ thống cửa hàng miễn thuế. Theo đó, thuật ngữ "cảng biển loại một" được thay bằng "cảng biển" để thống nhất với Luật Hàng hải, đồng thời cho phép triển khai cửa hàng miễn thuế tại tất cả các cảng biển có tàu thuyền quốc tế ra vào.

Thay đổi này không chỉ tháo gỡ rào cản pháp lý mà còn mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế biển. Việc mở rộng mạng lưới kinh doanh được kỳ vọng sẽ góp phần tăng sức hút của các cảng biển, đồng thời thúc đẩy tiêu dùng và thu hút ngoại tệ.

Việc Bộ Tài chính xây dựng dự thảo Nghị định thay thế được kỳ vọng sẽ tạo ra bước chuyển căn bản, hướng tới mô hình quản lý phi giấy tờ, chuẩn hóa quy trình và tháo gỡ các rào cản thủ tục, qua đó thúc đẩy phát triển hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế.

Cùng với đó, toàn bộ quy trình quản lý được định hướng chuyển sang nền tảng dữ liệu điện tử của cơ quan Hải quan, thay thế hồ sơ giấy. Thông tin sẽ được khai thác từ các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu của Bộ Công an và các hệ thống chuyên ngành, qua đó giảm thiểu tối đa việc sử dụng giấy tờ.

Dự thảo cũng đề xuất bãi bỏ một số điều kiện kinh doanh không còn phù hợp. Ông Nguyễn Bắc Hải - Phó Trưởng Ban Giám sát quản lý về hải quan, Cục Hải quan ví dụ quy định cấp phép nhập khẩu thuốc lá bán tại cửa hàng miễn thuế. Việc cắt giảm thủ tục này không chỉ phù hợp với định hướng sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá mà còn thể hiện tư duy quản lý hiện đại, giảm bớt các tầng nấc trung gian không cần thiết.

Đáng chú ý, việc hợp nhất các quy trình có tính chất tương đồng thành một quy trình thống nhất sẽ giúp người khai hải quan dễ thực hiện hơn, đồng thời hạn chế sai sót do chồng chéo quy định. Song song với đó, yêu cầu số hóa chứng từ được đặt ra như một điều kiện tiên quyết nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng Hải quan số, Hải quan thông minh.

Để tăng cường hiệu quả quản lý, dự thảo Nghị định cũng bổ sung cơ chế kiểm tra đối với trường hợp hàng hóa đã thanh toán nhưng không nhận tại khu cách ly - một lỗ hổng từng bị lợi dụng trong thực tế. Đồng thời, quy định rõ định mức mua hàng miễn thuế đối với từng nhóm đối tượng tại cửa khẩu đường bộ, cảng biển và cảng hàng không quốc tế, qua đó kiểm soát chặt chẽ hơn dòng lưu chuyển hàng hóa.

Theo cơ quan Hải quan, việc ứng dụng quản trị rủi ro và dữ liệu lớn sẽ giúp nhận diện sớm các dấu hiệu bất thường, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp kinh doanh chân chính, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Có thể thấy, việc sửa đổi Nghị định 100 không chỉ nhằm tháo gỡ các vướng mắc kỹ thuật mà còn hướng tới tái cấu trúc toàn diện phương thức quản lý theo hướng hiện đại, minh bạch và số hóa.

Doanh thu hàng miễn thuế tăng "khủng"

Nghị định số 100/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý, tạo nền tảng cho hoạt động kinh doanh phát triển và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.

Giai đoạn từ năm 2020 đến nay, dù chịu tác động mạnh từ đại dịch Covid-19, hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế trên phạm vi cả nước vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Theo số liệu thống kê, tổng doanh thu năm 2020 đạt 10.337.504 USD, đến năm 2024 đã tăng lên 157.920.266 USD.

Đối tượng khách hàng chủ yếu là du khách quốc tế đến từ các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Philippines… Điều này cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường hàng miễn thuế, đồng thời phản ánh hiệu quả của chính sách trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.

Nghị định số 100/2020/NĐ-CP cũng thiết lập nền tảng pháp lý quan trọng cho cơ quan Hải quan trong công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế theo nguyên tắc quản lý rủi ro. Trên cơ sở đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và trang thiết bị hiện đại đã được triển khai đồng bộ tại các đơn vị trong toàn ngành.

Thực tế cho thấy, việc số hóa các quy trình nghiệp vụ đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Các giao dịch như truyền hóa đơn điện tử, phiếu xuất kho, phiếu giao nhận hàng hóa hay dữ liệu báo cáo quyết toán đều được thực hiện trên hệ thống điện tử hải quan. Qua đó, không chỉ giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và công chức hải quan, hạn chế tiêu cực mà còn tiết kiệm đáng kể chi phí in ấn, đi lại.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng thể hiện rõ định hướng cải cách thủ tục hành chính thông qua việc cắt giảm các loại giấy tờ không cần thiết, minh bạch hóa quy trình và thời gian xử lý. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được quy định rõ ràng, đồng thời phân định trách nhiệm của công chức hải quan, góp phần nâng cao tính tự chủ và ý thức tuân thủ pháp luật của các bên liên quan.

Những cải cách này đã góp phần giảm tối đa tiếp xúc trực tiếp trong quá trình làm thủ tục, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu theo hướng minh bạch, hiện đại.

Đông Mai

Hồng Vân

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/so-hoa-toan-dien-mo-rong-khong-gian-kinh-doanh-hang-mien-thue-194985.html