Sự chấp trước
NSGN - Trưởng lão Xá-lợi-phất đã dạy trong kinh Chánh kiến(1) rằng sự chấp trước là khổ.
Bhante Henepola Gunaratana là một vị Tỳ-kheo người Sri Lanka và là tác giả của nhiều sách thiền nổi tiếng, như quyển Chánh niệm - hiểu biết đích thực (Mindfulness in Plain English).
Ngài là Chủ tịch của Hội Bhavana tại High View, West Virginia, một tổ chức cổ vũ thực hành thiền định và đời sống xuất gia.
Do đó, nguyên nhân của khổ chính là nguyên nhân của chấp trước, sự đoạn diệt của khổ là sự đoạn diệt của chấp trước, và con đường dẫn đến sự đoạn diệt của khổ cũng chính là con đường dẫn đến sự đoạn diệt của sự chấp trước. Sau khi giải thích điều này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã đề cập đến câu hỏi về nguồn gốc của khổ, đó chính là sự chấp trước. Và nguyên nhân của chấp trước là tham ái. Như vậy, khi tham ái diệt thì chấp trước cũng diệt. Khi chấp trước diệt thì khổ cũng diệt.
Sự chấp trước khởi lên từ một chuỗi các hiện tượng tâm lý duyên sinh. Khi các căn tiếp xúc với trần cảnh, thức khởi sinh. Khi căn, trần và thức hội tụ, xúc phát sinh. Kết quả của xúc là thọ khởi lên. Thọ phụ thuộc vào trạng thái tâm của chúng ta; bản thân các đối tượng không có tính chất dễ chịu hay khó chịu. Chính tâm phân biệt và dán nhãn chúng là lạc thọ hay khổ thọ.
Nếu một đối tượng được cho là dễ chịu, trạng thái tâm tham ái sẽ khởi sinh. Mong muốn được cảm nhận, lặp đi lặp lại, cùng một đối tượng đã mang lại cảm giác dễ chịu sẽ xuất hiện. Mô hình này, được củng cố bởi dục vọng và tăng cường bởi sự lặp lại, dẫn đến bám chấp. Tất cả các trạng thái này khởi lên trong tâm và diệt trong tâm. Do đó, chúng ta phải quán chiếu tâm để tìm ra bí mật của hạnh phúc. Giải pháp cho khổ đau của chúng ta không nằm ở bên ngoài mà nằm ngay trong chính tâm ta.
Dục vọng được củng cố khi trạng thái tâm khao khát đối tượng khả ái trở thành thói quen. Dục vọng được nuôi dưỡng theo cách này sẽ trở nên vô cùng mãnh liệt. Kết quả là tâm bị kết dính vào đối tượng của dục vọng như dán keo. Càng chú ý đến đối tượng và suy tư về nó, dục vọng càng mãnh liệt và sự chấp trước càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta bám chấp vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp - nói cách khác, vào thế giới của sáu căn. Dường như một thế giới liên kết với các căn được hình thành mỗi khi chúng hoạt động. Ví dụ, khi ta thấy một điều gì đó, thế giới của nhãn thức sinh khởi. Tùy theo phẩm chất của tâm, thế giới của tư tưởng xuất hiện và vô số hình ảnh được tạo dựng trong tâm.
Nếu thấy rõ toàn bộ cơ chế dẫn đến sự dính chấp, chúng ta sẽ hiểu rằng thực sự không có gì để chấp vào cả.
Trong từng khoảnh khắc, chúng ta tái sinh vào thế giới của nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Đắm chìm trong những thế giới này, chúng ta bám chấp vào các đối tượng của chúng. Khi các đối tượng ấy mất đi, chúng ta tiếc nuối điều mình đã bám víu và cảm thấy khổ đau. Những thế giới này sinh khởi và hoại diệt từng phút giây này sang phút giây khác. Chúng ta chấp vào chúng vì vô minh che lấp khiến ta không thấy rõ bản chất sinh diệt liên tục của chúng. Khi thấy được lý Duyên khởi - cái này có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia diệt - chúng ta hiểu rằng thật sự không có gì để bám chấp cả.
Chấp trước khởi sinh trong tâm khi chúng ta không thấy rõ cơ chế vận hành của nó. Thực tế, chúng ta không chấp vào chính đối tượng mà chấp vào ý niệm về đối tượng sinh khởi trong tâm, khiến ta đắm nhiễm trong đó. Nhưng nếu thấy được toàn bộ quá trình dẫn đến chấp trước, chúng ta sẽ hiểu rằng thực sự không có gì đáng để bám víu. Tuy nhiên, do vô minh và tham ái, chúng ta không nhận ra điều này. Vô minh quá mạnh đến mức làm mờ tri giác, khiến chúng ta tin rằng những gì mình khao khát là thường hằng và sẽ mang lại an ổn, hạnh phúc. Khi thấy rõ bằng chánh trí về sự khởi lên của các dục niệm trong tâm, tham ái không thể phát sinh.
Khi hiểu rõ bằng tuệ giác rằng tất cả những gì thuộc về thế giới của sáu căn đều chịu sự biến hoại, chúng ta có thể buông bỏ sự bám víu vào những thế giới đó. Khi đã buông bỏ, chúng ta vượt thoát khỏi sầu muộn, bi ai và đau khổ, đạt đến cảnh giới bình an tuyệt đối, nơi không còn dấu vết của khổ đau.
Mỗi khi chủ đề về vô chấp được thảo luận, vai trò của dục vọng trong việc theo đuổi các hoạt động và nghề nghiệp cần thiết cho đời sống hàng ngày lại xuất hiện. Lập luận này xuất phát từ sự nhầm lẫn giữa quan tâm và chấp trước. Dĩ nhiên, chúng ta phải có sự quan tâm hoặc mong muốn để duy trì các hoạt động cần thiết cho sự tồn tại của mình trên thế gian, nhưng điều đó không đồng nghĩa với chấp trước. Ví dụ sau đây minh họa rõ điểm này.
Kinh điển Phật giáo cổ đại kể lại câu chuyện về cuộc chiến huyền thoại giữa chư thiên (deva) và a-tu-la (asura). A-tu-la bị thất bại, và Đế-thích (Sakka), vua của chư thiên, ra lệnh cho thị giả trói vua a-tu-la là Vepacitti lại. Vepacitti bị trói ở năm chỗ - hai tay, hai chân và cổ - bằng một sợi xích nặng và bị kéo lên thiên giới. Nhưng Đế-thích đưa ra một điều kiện để giải phóng ông: nếu Vepacitti thừa nhận rằng chư thiên là đúng và a-tu-la là sai, ông sẽ ngay lập tức được cởi trói và được phép ở lại cõi trời để hưởng phúc lạc. Vepacitti lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Làm sao ông có thể phản bội đồng loại a-tu-la bằng cách thừa nhận rằng họ sai? Nhưng nếu thuận theo yêu cầu của Đế-thích, ông có thể hưởng thụ lạc thú ở cõi trời. Tuy nhiên, lòng kiêu hãnh không cho phép ông khuất phục. Dù lựa chọn thế nào, ông vẫn bị trói buộc. Câu chuyện này ẩn dụ rằng khi một người còn bị ràng buộc bởi năm dục tính, thì không có lối thoát khỏi khổ đau.
Đức Phật dạy rằng tham dục cũng giống như vậy. Khi còn vướng mắc trong vô minh, con người không thể sống mà không có tham dục; nhưng đồng thời, tham dục cũng mang đến khổ đau vô cùng. Vepacitti tượng trưng cho những đặc tính tiêu cực, đứng đầu là tham ái, trong khi Đế-thích đại diện cho những phẩm chất thiện lành được phát triển nhờ chánh niệm. Khi hai bên giằng co, chánh niệm xuất hiện như một vị quan tòa phân xử, giúp thiết lập sự quân bình và đưa tham dục trở về trong tầm kiểm soát. Nếu không có chánh niệm, con người mãi giống như Vepacitti, bị trói buộc bởi dây xích của ngũ dục, bị giam hãm trong lòng tham.
Một cuộc sống thanh thản và an nhiên, không chấp trước, giống như một chiếc tàu lượn nhẹ nhàng bay lượn trên bầu trời, trong khi chấp trước khiến tàu lượn tĩnh lặng rơi xuống tan vỡ.
Bản chất con người là luôn chống đối việc phải từ bỏ những điều dễ chịu. Ngay cả một số đệ tử của Đức Phật cũng phản đối việc phải từ bỏ dục lạc. Trong kinh Ẩn dụ chim cút (The Discourse on the Simile of the Quail), Tôn giả Udayin đã thưa với Đức Phật rằng bao nhiêu khổ đau đã được đoạn trừ nhờ sự chế ngự và từ bỏ. Nhưng một số Tỳ-kheo khác lại phản kháng các giới luật từ bỏ mà Đức Phật đặt ra. Khi được dạy rằng: “Hãy từ bỏ điều này, điều kia”, họ bướng bỉnh nghĩ rằng: “Chỉ là chuyện nhỏ nhặt thôi mà Thế Tôn quá nghiêm khắc!”. Nhưng chính điều nhỏ nhặt ấy, khi ta không từ bỏ được, lại trở thành cái gông lớn và nặng nề.
Để minh họa sự nguy hiểm, tai hại và hậu quả đau đớn của việc dính mắc vào những điều dễ chịu, Đức Phật kể cho Tôn giả Udayin nghe câu chuyện về con chim cút bị vướng bẫy không thoát ra được. Chim cút bị một sợi dây leo khô mục quấn chân. Nhưng vì cút là loài chim yếu ớt, nên nó không thể tự cởi trói, dây leo khô mục đó đối với nó quá cứng, quá dai. Cũng vậy, những điều nhỏ nhặt, những thói quen liên quan đến dục lạc, thoạt đầu có vẻ vô hại và không đáng kể, nhưng khi không thể từ bỏ, chúng trở thành xiềng xích nặng nề trói buộc con người. Đức Phật dạy thêm rằng khi ta vượt qua được chấp trước, mọi xiềng xích liên quan đến tham dục trở nên yếu ớt và dễ đứt như một sợi dây leo mục nát. Nếu một con voi bị mắc bẫy như thế, nó chỉ cần xoay nhẹ thân là có thể dễ dàng thoát khỏi sợi dây leo tưởng như chắc chắn, nhưng thực ra chỉ là một sợi dây leo khô mục.
Một cuộc sống thanh thản, an nhiên, không chấp trước, sẽ giống như chiếc tàu lượn (hang glider) nhẹ nhàng bay lượn trên bầu trời, trong khi chấp trước khiến tàu lượn của sự tĩnh lặng rơi xuống tan vỡ. Việc học cách điều khiển một chiếc tàu lượn là một ẩn dụ trực tiếp về cách chấp thủ hoạt động và cách buông bỏ nó giúp con người tự do như thế nào. Khi bay tàu lượn, người ta thường nắm chặt thanh điều khiển vì sợ hãi, do tâm chấp ngã - cái “tôi” tự nhận. Nhưng chính sự cân bằng của đôi cánh và tư thế của tàu lượn mới quyết định sự bay lượn trên không. Khi ta nắm quá chặt thanh điều khiển vì sợ hãi, trọng tâm bị lệch và mũi tàu lượn chúc xuống. Khi chấp thủ, tâm chỉ lo nắm giữ thật chặt, không còn chú ý đến vị trí của tàu lượn. Khi không thấy sự vật đúng như bản chất của chúng, ta mất tỉnh giác do sợ hãi. Trong quá trình huấn luyện, ta được bảo chỉ chạm nhẹ vào thanh điều khiển khi cất cánh, và kiểm soát tàu lượn bằng những điều chỉnh rất tinh tế. Qua thời gian và thực tập, điều này trở thành tự nhiên, và người phi công có thể dễ dàng bay lên cao hơn, nhẹ nhàng điều khiển tàu lượn bằng những cử động tinh tế trên thanh điều khiển.
Sự thành công của người phi công nằm ở khả năng vượt qua chấp thủ. Chiến thắng nhỏ bé đối với bản thân này mang lại một cảm giác tự do trùm phủ khi người ấy lướt nhẹ nhàng trên không trung. Nếu chỉ bay theo cách thế gian tầm thường đã có thể mang lại niềm hân hoan như thế, thì khi vươn đến đỉnh cao của sự giải thoát tâm linh, niềm an lạc sẽ vô biên, vô cùng đến đâu!
----‐-------------
(Chuyển ngữ từ Clinging, sách Lý Duyên khởi cơ bản - Dependent Origination in Plain English củaBhante Gunaratana 2024, Wisdom Publications)
(1)The Discourse on Right View (kinh Chánh kiến), Tương ưng bộ kinh.
(NSGN - 360)
Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/su-chap-truoc-post79244.html











