Sửa Luật An toàn thực phẩm, kiểm soát nguy cơ từ đầu chuỗi

Trước những nguy cơ hiện hữu, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới quản lý theo chuỗi, tăng cường hậu kiểm, ứng dụng dữ liệu số và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể.

Yêu cầu đổi mới quản lý

An toàn thực phẩm đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với công tác quản lý nhà nước, đặc biệt trong việc kiểm soát nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và phòng ngừa nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Những thay đổi trong tổ chức sản xuất, phương thức phân phối và thói quen tiêu dùng đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.

Sau gần 16 năm thực hiện, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những hạn chế trước sự thay đổi của hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Thực phẩm được phân phối qua nhiều kênh, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, trong khi thương mại điện tử và dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến phát triển nhanh, đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý.

Kiểm tra hoạt động bếp ăn tập thể trên địa bàn phường Long Biên, TP. Hà Nội.

Kiểm tra hoạt động bếp ăn tập thể trên địa bàn phường Long Biên, TP. Hà Nội.

Theo Bộ Y tế, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tập trung vào 4 nhóm chính sách, gồm quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi dựa trên đánh giá nguy cơ, đổi mới phương thức quản lý và kiểm tra, xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, tăng cường kiểm soát thức ăn đường phố và bếp ăn tập thể. Dự thảo đồng thời bổ sung trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh thực phẩm trên môi trường số.

Theo báo cáo tình hình kinh tế và xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê, cả nước xảy ra 62 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 3.137 người ngộ độc và 9 người tử vong. Riêng tháng 9 ghi nhận 5 vụ với 382 người mắc và 2 người tử vong. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ ngộ độc tăng 11 vụ, tương đương 21,6%. Số người bị ngộ độc tăng từ 725 lên 3.137 người, gấp khoảng 4,3 lần. 

Số người mắc ngộ độc thực phẩm tăng nhanh hơn nhiều so với số vụ, phản ánh nguy cơ ảnh hưởng trên diện rộng, nhất là tại các bếp ăn tập thể và cơ sở cung cấp suất ăn quy mô lớn. Thực trạng này đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát nguồn nguyên liệu, điều kiện chế biến và khả năng phát hiện sớm nguy cơ mất an toàn thực phẩm.

Hoạt động kiểm tra, giám sát trong năm 2025 cũng ghi nhận nhiều vi phạm. Theo báo cáo của Bộ Y tế, toàn ngành đã kiểm tra 334.764 cơ sở, phát hiện 20.791 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, chiếm 6,21% số cơ sở được kiểm tra. Cơ quan chức năng đã xử lý 6.057 cơ sở, đình chỉ hoạt động 40 cơ sở, tiêu hủy 635 loại thực phẩm không bảo đảm chất lượng và chuyển 2 vụ sang cơ quan Cảnh sát điều tra. Tổng số tiền xử phạt vượt 33,83 tỷ đồng.

Cũng trong năm 2025, cả nước ghi nhận 84 vụ ngộ độc thực phẩm với 2.301 người mắc. Sang quý I/2026, số vụ đã lên tới 36, tăng 20 vụ so với cùng kỳ năm trước. Cục An toàn thực phẩm nhận định việc tăng cường giám sát, kiểm tra và duy trì hệ thống báo cáo đã góp phần phát hiện thêm những vụ việc trước đây có nguy cơ bị bỏ sót.

Thực tế tại các địa phương tiếp tục phản ánh áp lực đối với hệ thống quản lý. Trong 9 tháng năm 2026, TP. Hồ Chí Minh kiểm tra 16.540 cơ sở, phát hiện 1.135 cơ sở vi phạm, xử lý 1.023 cơ sở với tổng số tiền phạt hơn 11 tỷ đồng. Thành phố cũng ghi nhận 9 vụ được kết luận là ngộ độc thực phẩm, làm 637 người mắc, trong đó 453 người nhập viện.

Mặc dù công tác kiểm tra, xử lý vi phạm được triển khai thường xuyên, nguy cơ mất an toàn thực phẩm vẫn hiện hữu tại nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, phát hiện vi phạm sau khi thực phẩm đã lưu thông hoặc xảy ra ngộ độc gây khó khăn cho công tác truy xuất nguồn gốc, xác định trách nhiệm và thu hồi sản phẩm. Thực trạng này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm quản lý sang chủ động nhận diện, kiểm soát nguy cơ ngay trong quá trình sản xuất, chế biến và phân phối thực phẩm.

Tại các bếp ăn tập thể, nguyên liệu không bảo đảm an toàn có thể ảnh hưởng đến hàng trăm suất ăn, làm gia tăng nguy cơ ngộ độc trên diện rộng. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố mang tính nhỏ lẻ, phân tán và thường xuyên thay đổi địa điểm, gây khó khăn cho việc giám sát điều kiện vệ sinh, kiểm soát nguồn nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc thực phẩm.

Ngày 14/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg về tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục. Chỉ thị chỉ rõ những hạn chế trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, kiểm soát nguồn nguyên liệu và xử lý vi phạm tại một số cơ sở.

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm quản lý sang nhận diện, đánh giá và kiểm soát nguy cơ trước khi thực phẩm đến tay người tiêu dùng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Chuyển từ quản lý theo công đoạn sang kiểm soát chuỗi thực phẩm

Thông tin về định hướng sửa đổi Luật, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Chu Quốc Thịnh nêu rõ phương thức quản lý mới hướng tới kiểm soát nguy cơ tại từng mắt xích của chuỗi cung ứng, bao gồm sản xuất ban đầu, sơ chế, chế biến, kinh doanh, vận chuyển và phân phối thực phẩm.

Theo đó, hoạt động kiểm soát được thực hiện ngay tại các khâu trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, giết mổ và xử lý nguyên liệu. Công tác giám sát tập trung vào những nguy cơ như tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chất gây ô nhiễm và điều kiện vệ sinh trong chế biến, với phương thức kiểm soát phù hợp mức độ nguy cơ của từng nhóm thực phẩm.

Phương thức quản lý theo chuỗi hướng tới khắc phục tình trạng phân tán trách nhiệm giữa các công đoạn. Một sản phẩm thực phẩm có thể trải qua nhiều cơ sở sản xuất, địa bàn và khâu vận chuyển trước khi đến tay người tiêu dùng. Thiếu dữ liệu liên thông giữa các khâu sẽ gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc xác định nguồn phát sinh nguy cơ, phạm vi ảnh hưởng và tổ chức thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Ông Chu Quốc Thịnh - Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế

Ông Chu Quốc Thịnh - Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế

Dự thảo Luật đề xuất phân loại thực phẩm theo mức độ nguy cơ để áp dụng phương thức quản lý phù hợp. Phần lớn sản phẩm tiếp tục thực hiện tự công bố và chịu sự giám sát, hậu kiểm. Những nhóm thực phẩm có tính chất đặc thù, liên quan đến sức khỏe cộng đồng hoặc dành cho các đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người bệnh tiếp tục thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm.

Đối với thực phẩm tươi sống như rau, củ, quả có thời gian bảo quản ngắn và khó tiêu chuẩn hóa, dự thảo định hướng miễn thủ tục công bố sản phẩm nhằm phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của nhóm hàng này.

Phân loại theo nguy cơ tạo điều kiện tập trung nguồn lực kiểm nghiệm, kiểm tra vào những nhóm sản phẩm và cơ sở có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng. Doanh nghiệp tuân thủ tốt được giảm gánh nặng thủ tục, trong khi những trường hợp có nguy cơ cao chịu sự giám sát chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đánh giá nguy cơ. Nếu thiếu dữ liệu kiểm nghiệm, thông tin về lịch sử vi phạm và cơ sở khoa học để phân loại, hoạt động hậu kiểm khó đạt được mục tiêu phòng ngừa.

Tại phiên thẩm tra ngày 1/10, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) nghiên cứu kỹ căn cứ khoa học trong phân loại nguy cơ, năng lực hệ thống thử nghiệm và điều kiện bảo đảm thực hiện hậu kiểm.

Về hậu kiểm, dự thảo Luật bổ sung các quy định, làm rõ đối tượng, nguyên tắc, phương thức, tần suất kiểm tra và trách nhiệm của cơ quan thực hiện. Đồng thời, dự thảo đề xuất tăng cường các biện pháp xử lý vi phạm, bao gồm thu hồi giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, gỡ bỏ hồ sơ công bố và thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Cùng đó, dự thảo định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia có khả năng liên thông, tích hợp thông tin về cơ sở sản xuất, kinh doanh, lịch sử tuân thủ pháp luật, kết quả kiểm nghiệm, cảnh báo nguy cơ và truy xuất nguồn gốc thực phẩm.

Trên cơ sở dữ liệu được cập nhật, cơ quan quản lý có thể xác định đối tượng, nội dung và tần suất kiểm tra phù hợp với mức độ nguy cơ, ưu tiên giám sát những cơ sở từng vi phạm, nhóm sản phẩm có nguy cơ cao hoặc lô hàng xuất hiện dấu hiệu bất thường. Phương thức này hướng tới khắc phục tình trạng kiểm tra dàn trải, nâng cao khả năng phát hiện sớm vi phạm và sử dụng hiệu quả nguồn lực quản lý.

Lực lượng Quản lý thị trường thực hiện nghiệp vụ kiểm tra, giám sát chất lượng thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Lực lượng Quản lý thị trường thực hiện nghiệp vụ kiểm tra, giám sát chất lượng thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Trong lĩnh vực Công Thương, quản lý an toàn thực phẩm trên nền tảng dữ liệu tiếp tục được cụ thể hóa bằng các quy định pháp lý. Ngày 30/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 63/2026/TT-BCT quy định về Cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ, có hiệu lực từ ngày 15/11/2026.

Thông tư quy định việc tạo lập, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu về cơ sở sản xuất, kinh doanh, sản phẩm thực phẩm, điều kiện bảo đảm an toàn, kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm và truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có trách nhiệm thiết lập, lưu trữ hồ sơ truy xuất nguồn gốc và bảo đảm cung cấp thông tin trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Quy định này hướng tới nâng cao khả năng xác minh nguồn gốc, phát hiện nguy cơ và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối giữa các hệ thống và cơ chế chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý, bảo đảm dữ liệu được cập nhật kịp thời và phục vụ trực tiếp hoạt động kiểm tra, giám sát.

Xác định rõ trách nhiệm quản lý, bảo vệ người tiêu dùng

Cùng với đổi mới phương thức kiểm soát, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) định hướng thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương. Theo đó, Bộ Y tế giữ vai trò đầu mối quản lý ở Trung ương. Cấp tỉnh thực hiện quản lý thông qua hệ thống cơ quan chuyên môn về an toàn thực phẩm, còn cấp xã được phân công trách nhiệm giám sát những hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

Phương án này hướng tới khắc phục tình trạng phân tán nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý, đồng thời làm rõ trách nhiệm trong kiểm tra, cảnh báo và xử lý sự cố. Tuy nhiên, thống nhất đầu mối không đồng nghĩa với tập trung toàn bộ hoạt động chuyên môn về một cơ quan. Công tác kiểm soát thực phẩm vẫn liên quan đến quản lý nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, lưu thông hàng hóa, thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống.

Vấn đề đặt ra là thiết kế cơ chế phối hợp có khả năng xác định rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm cung cấp dữ liệu và thẩm quyền xử lý tại từng công đoạn. Đặc biệt, chính quyền cấp xã cần được bảo đảm nhân lực chuyên môn, phương tiện kiểm tra và khả năng tiếp cận hệ thống dữ liệu để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Dự thảo Luật bổ sung quy định quản lý thực phẩm trên môi trường thương mại điện tử, làm rõ trách nhiệm của người bán, đơn vị quản lý nền tảng trung gian và cơ sở cung cấp dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến. Hoạt động kinh doanh qua các nền tảng số đặt ra nhiều thách thức khi địa điểm chế biến, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ thực phẩm có thể thuộc nhiều địa bàn khác nhau, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, giám sát.

Các quy định mới hướng tới tăng cường khả năng truy xuất thông tin về chủ thể kinh doanh, nguồn gốc thực phẩm, điều kiện bảo quản và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, xử lý sự cố, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch trực tuyến.

TS. Angela Pratt - Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam.

TS. Angela Pratt - Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam.

Đánh giá về định hướng sửa đổi Luật, TS. Angela Pratt - Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam cho rằng, đây là cơ hội tăng cường phòng ngừa và kiểm soát nguy cơ xuyên suốt chuỗi thực phẩm. WHO khuyến nghị Việt Nam củng cố mô hình quản lý thống nhất, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan và nâng cao năng lực phát hiện, ứng phó sớm với nguy cơ mất an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, WHO đề xuất tăng cường xây dựng môi trường thực phẩm lành mạnh, minh bạch thông tin dinh dưỡng, kiểm soát quảng cáo thực phẩm không lành mạnh hướng tới trẻ em và hạn chế những thông tin về dinh dưỡng, sức khỏe có khả năng gây hiểu nhầm. Các khuyến nghị hướng tới bảo vệ sức khỏe cộng đồng lâu dài, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và lựa chọn thực phẩm an toàn của người tiêu dùng.

Về lộ trình thực hiện, dự thảo Luật đề xuất thời hạn chuyển tiếp tối đa 36 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực để hoàn thiện, cập nhật một số hồ sơ sản phẩm trên hệ thống dữ liệu chuyên ngành, hạn chế gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong quá trình thẩm tra dự án Luật, cơ quan của Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát tính thống nhất với các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm hàng hóa, quảng cáo và các cam kết quốc tế. Những vấn đề liên quan đến năng lực kiểm nghiệm, kinh phí xây dựng hệ thống dữ liệu và nguồn lực thực thi tại địa phương cũng được đặt ra nhằm bảo đảm tính khả thi của các quy định sau khi Luật được ban hành.

Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) dự kiến được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, diễn ra từ ngày 17/10 đến 20/11/2026. Việc sửa đổi Luật lần này hướng tới thay đổi cách thức quản lý bằng những công cụ cụ thể, trong đó dữ liệu phục vụ phát hiện nguy cơ, hậu kiểm gắn với lịch sử tuân thủ và trách nhiệm được xác định xuyên suốt chuỗi cung ứng. Hiệu quả cuối cùng sẽ được đánh giá bằng khả năng phòng ngừa ngộ độc, phát hiện sớm thực phẩm không an toàn, rút ngắn thời gian truy xuất và xử lý vi phạm, đồng thời tạo môi trường kinh doanh minh bạch cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

Nguyên Thảo

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/sua-luat-an-toan-thuc-pham-kiem-soat-nguy-co-tu-dau-chuoi-478269.html