Sức sống di sản trong đời sống đương đại (Bài 1): Đặc sắc lễ rước bóng Vua Bà
Trong tiết xuân tháng Hai, khi những vạt nắng non còn vương trên đỉnh núi Gai, mảnh đất Phú Điền như chậm lại trong một nhịp rất riêng. Không gian đền Bà Triệu bừng lên bởi sắc cờ hội, tiếng trống ngân dài và dòng người đổ về với lòng thành kính hướng về Bà Triệu. Giữa lớp lớp nghi lễ linh thiêng đan xen, lễ rước bóng Vua Bà hiện lên như một mạch nguồn lặng sâu, nơi ký ức được 'đánh thức' qua từng bước chân, từng nhịp kiệu, để rồi hòa vào hiện tại bằng niềm tin bền bỉ của cộng đồng.

Nghi thức rước kiệu tại lễ hội đền Bà Triệu. Ảnh: Thùy Linh
Từ xa xưa, tục thờ cúng các nhân vật lịch sử có công với đất nước đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của người Việt. Không chỉ là sự tri ân, đó còn là cách gìn giữ đạo lý, hun đúc bản sắc, phản ánh những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc. Lễ hội đền Bà Triệu là một trong những đại diện tiêu biểu cho truyền thống ấy. Trong tâm thức người dân, Bà Triệu không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà là biểu tượng của khí phách và lòng yêu nước. Hình ảnh Bà Triệu được lưu giữ qua những câu thơ “Đầu voi phất ngọn cờ vàng. Giang sơn mấy cõi chiến trường xông pha”, và lắng sâu trong lời khẳng khái: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh... đánh đuổi giặc Ngô... chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta”.
Lễ hội đền Bà Triệu từ lâu đã trở thành một trong những lễ hội tiêu biểu của xứ Thanh, được ghi nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội được tổ chức vào ngày 20 đến 22 tháng 2 âm lịch hằng năm. Không gian lễ hội gắn liền với Khu di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Bà Triệu và vùng đất Phú Điền - căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu và cũng là không gian sinh hoạt tâm linh của người dân địa phương.
Về làng Phú Điền (xã Triệu Lộc) trong những ngày này, dạo quanh những con đường nhỏ rợp cờ hội, dễ bắt gặp hình ảnh các cụ cao niên quây quần bên hiên nhà, chậm rãi kể chuyện xưa. Câu chuyện về lễ hội, về Bà Triệu được nhắc lại một cách tự nhiên, như một phần ký ức chung của làng. Ông Đặng Văn Cường, 76 tuổi cho biết: “Lễ hội không chỉ là dịp để tưởng nhớ công lao Vua Bà, mà còn là ngày hội lớn của cả làng, nơi mọi người cùng nhau hướng về cội nguồn. Từ khâu chuẩn bị đến khi vào hội, ai cũng có phần việc của mình. Không ai bảo ai, nhưng ai cũng tự giác, trách nhiệm”. Theo ông Cường, các nghi lễ của lễ hội được người dân gìn giữ và thực hành theo đúng truyền thống với lòng thành kính trang nghiêm. Những người tham gia lễ hội, đặc biệt là với đội rước kiệu, luôn được lựa chọn kỹ càng: có sức khỏe tốt, diện mạo đẹp, gia đình nền nếp, gương mẫu và bản thân thanh sạch. Trước ngày hội, họ còn phải giữ mình, kiêng kỵ những điều không phù hợp, như một cách chuẩn bị cho một nghi thức thiêng liêng.
Trong hệ thống nghi lễ, rước bóng (rước kiệu) Vua Bà được xem là phần đặc sắc và quan trọng bậc nhất, trở thành “hồn cốt” của lễ hội. Đoàn rước được tổ chức quy củ với đội cờ dẫn đầu, tiếp đến là trống chiêng, đội chấp kích, các loại kiệu như hương án, bát cống, song loan, long đình, võng... Trong đó, kiệu bát cống – nơi ngự của linh khí Vua Bà được sơn son thếp vàng, do 16 người khiêng. Bên trong kiệu là những vật phẩm mang ý nghĩa biểu trưng như bát hương, trầu cau, đồ nữ trang. Hành trình rước kiệu bắt đầu từ đền Bà Triệu, qua lăng, về đình Phú Điền. Sau một ngày đêm, vào ngày chính lễ đoàn rước kiệu bắt đầu từ đình trở về đền, như một vòng tuần du khép kín mà giàu ý nghĩa. Đoàn rước kiệu được ví như “một con rồng lớn lừng lững tiến trên đường làng”.
Điểm làm nên sức hấp dẫn riêng của lễ rước kiệu chính là hiện tượng “kiệu bay”. Khi đoàn rước đi qua các ngã ba, ngã tư, hay trước sân đền, sân đình, cỗ kiệu khi xoay tròn, khi tiến lùi, lúc nghiêng sang trái, lúc chao sang phải. Những chuyển động ấy không theo một quy luật định sẵn, khiến ngay cả những người trực tiếp khiêng kiệu cũng khó lý giải.
Ông Nguyễn Trọng Thủy, thôn Phú Minh (xã Triệu Lộc) - người nhiều năm được tham gia đoàn rước kiệu cho biết: “Được tham gia đoàn rước kiệu là vinh dự. Mỗi người đều ý thức rõ trách nhiệm của mình trong gìn giữ, thực hành lễ hội và thể hiện lòng thành kính với Vua Bà. Rước kiệu là một nghi thức linh thiêng. Khi kiệu quay hướng nào, cả đoàn lập tức điều chỉnh theo hướng đó. Kiệu có lúc nặng trĩu, bước chân chậm lại, có lúc nhẹ bỗng, như được nâng lên”.
Theo các nhà nghiên cứu, “kiệu bay” mang đậm yếu tố tâm linh, thể hiện trạng thái thăng hoa của con người trong không gian thiêng. Trao đổi về nghi thức “rước bóng” Vua Bà, Tiến sĩ Hoàng Bá Tường, Hội viên Hội Văn hóa, dân gian Việt Nam cho rằng: "Rước bóng là một hiện tượng khá phổ biến trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Rước bóng Vua Bà thuộc tín ngưỡng ấy song lại mang nét riêng hiếm có. Bởi, Bà Triệu không chỉ là Mẫu theo nghĩa tín ngưỡng, mà còn là một anh hùng dân tộc, là Lệ Hải Bà Vương, là một trinh nữ. Hình tượng Bà Triệu mang cả yếu tố lịch sử lẫn huyền thoại. Hiện tượng kiệu quay thể hiện sự phấn khởi, thăng hoa của người rước kiệu trong không gian linh thiêng. Điều này đã tạo nên tính linh thiêng và sức sống đặc biệt cho lễ hội".
Trường tồn cùng thời gian, nghi lễ rước bóng Vua Bà không chỉ là một nghi thức, mà còn là biểu hiện sinh động của một hệ giá trị văn hóa. Đó là sự tri ân đối với người có công, là niềm tin vào những giá trị thiêng liêng, là cách cộng đồng duy trì sự gắn kết qua thời gian. Trong bối cảnh hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, thì những giá trị văn hóa trong lễ hội đền Bà Triệu càng trở nên quý giá, như một điểm tựa tinh thần bền vững.
Thùy Linh
Bài 2: Âm vang vùng di sản











