Tái chế nhựa - Phần 2: Nhựa tái sinh gặp khó vì chi phí cao

Chi phí logistics đang là 'gánh nặng' bởi chiếm 25-35% giá thu mua. Thiếu dữ liệu kết nối khiến vận chuyển và phối hợp liên vùng kém, làm tăng chi phí đầu vào và trực tiếp bào mòn sức cạnh tranh của hạt nhựa tái sinh PCR tại Việt Nam.

Tái chế rác thải nhựa - vẫn là “thảo nguyên mênh mông”

Mảng tái chế nhựa sau tiêu dùng (Post-Consumer Recycled hay PCR) thường quen thuộc hơn với tên gọi: tái chế rác thải nhựa. Tuy nhiên, những gì xuất hiện trên mặt báo hay người đọc hiểu và nắm bắt được trong nhiều năm qua vẫn chưa là bức tranh tổng thể của ngành tái chế nhựa Việt Nam.

Tính đến năm 2025-2026, hệ thống tái chế rác nhựa tại Việt Nam gồm hơn 2.500 điểm thu gom, xử lý sơ bộ và tái chế, theo dữ liệu của LoopNet Asia. Mạng lưới này là sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại.

Công nhân làm sạch bao bì nhựa trước giai đoạn tái chế tại nhà máy của Duy Tân Recycling ở Cụm công nghiệp nhựa Đức Hòa Hạ, Tây Ninh. Ảnh: DTR

Công nhân làm sạch bao bì nhựa trước giai đoạn tái chế tại nhà máy của Duy Tân Recycling ở Cụm công nghiệp nhựa Đức Hòa Hạ, Tây Ninh. Ảnh: DTR

Khoảng 15 làng nghề tái chế rác truyền thống hình thành từ thập niên 1980 ở các tỉnh phía Bắc và các cơ sở tái chế quy mô phần lớn tập trung ở phía Nam. Các làng nghề tái chế rác như Minh Khai ở Hưng Yên hay Triều Khúc ở Hà Nội thường được gắn thêm cái mác “thủ phủ rác”. Bởi các nơi này hoạt động tự phát, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và đang gánh vác 30% tái chế “bình dân” hay cấp thấp trên thị thị trường nội địa. Các làng nghề này cũng được xem là nguyên nhân gây ô nhiễm cho các dòng sông Tô Lịch, Nhuệ hay Cầu Bây gần đó... Trong khi đó, hơn 62% số cơ sở tập trung tại các tỉnh phía Nam, đặc biệt là dày đặc quanh TPHCM do mật độ khu công nghiệp, sản xuất cao với các doanh nghiệp uy tín như Duy Tân Recycling, An Phát Bioplatics hay VietCycle…

Nghịch lý lớn đang diễn ra. LoopNet Asia nói 7,4% các cơ sở tái chế lớn đóng góp gần 90% sản lượng tái chế nhựa PCR. Song các nơi này phải vất vả để chạm đến nguồn cung nằm rải rác ở hàng ngàn điểm thu gom nhỏ lẻ và lực lượng lao động phi chính thức. Sự đứt gãy này khiến hơn 90% số đơn vị chỉ dừng lại ở khâu sản xuất hạt nhựa tái sinh. Mảng các sản phẩm giá trị gia tăng ở hạ nguồn vẫn đang bỏ ngỏ.

Chi phí logistics đang là “gánh nặng” bởi chiếm 25-35% giá thu mua. Thiếu dữ liệu kết nối khiến vận chuyển và phối hợp liên vùng kém, làm tăng chi phí đầu vào và trực tiếp bào mòn sức cạnh tranh của hạt nhựa tái sinh PCR tại Việt Nam.

Hiện có nhiều doanh nghiệp lớn và uy tín tham gia vào chuỗi cung ứng, sản xuất hạt nhựa tái sinh. Nhưng giá thành nhựa tái sinh hiện cao hơn nhựa nguyên sinh khoảng 30-40%. Các công ty này giải thích để hạt nhựa tái sinh đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh cho bao bì thực phẩm của các cơ quan như FDA của Mỹ hay EFSA của châu Âu, doanh nghiệp phải nhập khẩu dây chuyền công nghệ hiện đại từ phương Tây. Quy trình tái chế gốm nhiều bước khắt khe: phân loại, tẩy rửa áp lực cao, diệt khuẩn, gia nhiệt, khử mùi, nung chảy và phân tách quang học.

Chi phí khấu hao thiết bị và tiêu thụ năng lượng của các hệ thống này đã đẩy giá thành tăng vọt. Hầu hết các nhà máy tái chế nhựa ở Đông Nam Á đang đối mặt với tình trạng tương tự của DTR, chuyên viên thương mại của một tập đoàn nhựa Trung Đông có văn phòng tại TPHCM nói với Kinh tế Sài Gòn. Trong một chừng mực nào đó, nhận định của người này trùng hợp với báo cáo của hãng tư vấn Bain & Co. của Mỹ công bố hồi tháng 3-2025.

“Hoạt động tái chế rác nhựa ở Đông Nam Á bị hạn chế vì chi phí thu gom và phân loại cao, có thể gấp 1,5-2 lần giá mua rác nhựa”, báo cáo của Bain & Co viết. Hãng tư vấn cũng nói rõ rằng các thị trường lớn ở ASEAN như Indonesia, Thái Lan và Việt Nam chỉ thu được 8-25% rác nhựa để tái chế tại các khu vực đô thị lớn.

Tài nguyên của tương lai

Không có con số chính thức về quy mô ngành tái chế nhựa công nghiệp PIR tại Việt Nam. Tuy vậy, các nguồn hải quan và hiệp hội nhựa nói, hàng năm Việt Nam nhập 10-11 tỉ đô la hạt nhựa nguyên liệu, tỷ lệ hao hụt trong sản xuất khoảng 3-10%. Suy ra mảng tái chế PIR có thể đạt quy mô hơn 300 triệu đến 1 tỉ đô la mỗi năm, khi tỷ lệ thu hồi có thể đạt tới 98-100%. Ngành công nghiệp này được đánh giá là tiềm năng khổng lồ, bởi chi phí xử lý thấp (do nhựa sạch, không bị lẫn tạp chất hữu cơ, đất cát, màu và mùi), vì thế biên lợi nhuận rất cao.

Trong khi đó, mảng tái chế nhựa tiêu dùng PCR đang là thách thức. Việt Nam hiện đứng thứ tư thế giới về rác thải nhựa, với khoảng 3,9 triệu tấn rác nhựa mỗi năm, theo Ngân hàng Thế giới (WB). Tuy vậy, WB cũng nhận định rằng Việt Nam sẽ lãng phí nguồn tài nguyên khổng lồ 2,9 tỉ đô la nếu không thu hồi, tái chế rác nhựa.

Tỷ lệ tái chế rác nhựa trên thế giới hiện đạt trung bình dưới 10%, theo Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP). Tỷ lệ tái chế tại Việt Nam đạt 10-33% tùy theo phân loại nhựa, theo LoopNet Asia. Nhựa PET (vỏ chai nước suối, nước ngọt) và nhựa PE (túi nylon, màng bọc) có tỷ lệ thu gom và xử lý cao nhất do nhu cầu thị trường lớn. Các loại nhựa dùng một lần hoặc nhựa giá trị thấp như hộp xốp (EPS), hộp nhựa mỏng hoặc sachet (gói gia vị, dầu gội) rất khó tái chế.

Xét về độ sạch và tái sử dụng ngay, tái chế nhựa công nghiệp PIR hiện có giá trị lớn hơn mảng nhựa tiêu dùng PCR rất nhiều. Trong cơn bão giá nguyên liệu hiện nay, nhựa tái chế (PIR) chính là “phao cứu sinh” thực tế nhất giúp doanh nghiệp “vượt bão”, thoát khỏi sự phụ thuộc vào biến động chính trị Trung Đông. Tuy nhiên, về tiềm năng thị trường và nhu cầu bảo vệ môi trường trong tương lai trung và dài hạn, PCR đang và sẽ là trọng tâm đầu tư mới của ngành nhựa Việt Nam.

Chung quy lại, như lời của một chuyên gia ngành nhựa, ngành nhựa đang trong thế đối đầu giữa hai mảng nguyên sinh và tái sinh.

Hồ Nguyên Thảo

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/tai-che-nhua-phan-2-nhua-tai-sinh-gap-kho-vi-chi-phi-cao/