Tài sản trí tuệ từ đại học - Nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế
Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng làn sóng đầu tư của các tập đoàn công nghệ lớn gia tăng mạnh tại Việt Nam đang mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam trong phát triển các ngành công nghệ cao.

Lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội trao đổi với sinh viên về sản phẩm nghiên cứu khoa học tại một triển lãm.
Cùng với đó, các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển đổi số được ban hành; các chương trình như Make in Vietnam, hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ.
Để tận dụng cơ hội này, việc phát triển hệ sinh thái tại các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường trở thành yêu cầu cấp thiết.
Cơ chế, mô hình thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Theo mục tiêu chiến lược, Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) định hướng phát triển trở thành cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á ( Quyết định số 663/QĐ-TTg) trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ, đồng thời là trung tâm xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong các công nghệ chiến lược phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và công nghiệp quốc gia. Đại học tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và các sản phẩm khoa học, công nghệ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa, đóng vai trò tiên phong trong hệ thống giáo dục đại học kỹ thuật của Việt Nam.
Với lực lượng nghiên cứu được cho là chất lượng hàng đầu trong các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam, gồm hơn 300 giáo sư/phó giáo sư, với 843 tiến sĩ (chiếm 73% trên tổng số 1.156 giảng viên), việc phát triển và khai thác tài sản trí tuệ gắn liền trong chiến lược phát triển của Đại học Bách khoa Hà Nội.
Các sản phẩm công nghệ và sở hữu trí tuệ của Đại học tập trung trong các lĩnh vực then chốt của nền công nghiệp và kinh tế-xã hội, tương ứng với 5 lĩnh vực ưu tiên phát triển của đại học, bao gồm: Trí tuệ nhân tạo và công nghệ dữ liệu; Blockchain và Kinh tế số; Hệ thống thông minh và robot; Năng lượng xanh/chuyển dịch năng lượng và phát triển bền vững; Vật liệu tiên tiến và công nghệ Nano; Công nghệ y sinh học và sức khỏe.
Mô hình phát triển tài sản trí tuệ tại Đại học Bách khoa Hà Nội được xây dựng dựa trên chu trình phát triển sản phẩm công nghệ từ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến thị trường. Kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng tham chiếu theo thang cấp độ hoàn thiện và sẵn sàng thương mại hóa của công nghệ (TRL-ISO 16290:2013). Các hướng dẫn, văn bản quy định về việc quản lý và khai thác tài sản trí tuệ của Đại học Bách khoa Hà Nội được ban hành nhằm thiết lập hành lang pháp lý toàn diện cho hoạt động sở hữu trí tuệ cho cán bộ, người học và các đơn vị chuyên môn.
Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhà trường áp dụng chính sách hỗ trợ 100% lệ phí xác lập và duy trì văn bằng bảo hộ, đồng thời quy đổi kết quả này vào điểm năng lực nghiên cứu của cá nhân. Đối với cán bộ của Đại học Bách khoa Hà Nội, việc nỗ lực nghiên cứu và đăng ký sở hữu trí tuệ, tạo ra sản phẩm trí tuệ trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ thường xuyên và được ghi nhận, đánh giá, khen thưởng.
Những kinh nghiệm từ thực tiễn của trường đại học
Qua hoạt động thực tiễn, đối với cơ sở giáo dục đại học, việc phát triển tài sản trí tuệ từ kết quả nghiên cứu được đúc rút một số điểm như sau:
Thứ nhất, để phát triển tài sản trí tuệ, cần có bộ phận tư vấn, hỗ trợ về sở hữu trí tuệ và mạng lưới các đối tác tư vấn về sở hữu trí tuệ để hỗ trợ hiệu quả, đáp ứng các lĩnh vực nghiên cứu của cán bộ, giảng viên. Đồng thời, đơn vị cần có những quy định khuyến khích việc đăng ký sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu nhằm trợ giúp và thúc đẩy sự hoàn thiện của công nghệ, để thương mại hóa theo chu trình phát triển công nghệ từ phòng thí nghiệm ra tới thị trường.
Thứ hai, nhà trường có cơ chế rõ ràng và khuyến khích thương mại hóa tài sản trí tuệ, bảo đảm quyền lợi kinh tế thỏa đáng cho tác giả. Đối với tác giả có nguyện vọng thương mại hóa thông qua thành lập các doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-off), nhà trường cần có bộ phận hỗ trợ về thủ tục pháp lý trong định giá và cho phép sử dụng tài sản trí tuệ và thương hiệu để góp vốn điều lệ. Mô hình liên kết 3 Nhà “Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp” là một giải pháp cho sự phát triển thị trường công nghệ.
Ngày 26/2/2026, Công ty cổ phần Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội đã được thành lập với vốn điều lệ 100 tỷ đồng, có 3 thành viên là: UBND thành phố Hà Nội (70% cổ phần), Đại học Bách khoa Hà Nội (15% cổ phần) và Tập đoàn CMC (15% cổ phần). Qua đó, mở ra triển vọng hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Thứ ba, công tác giám sát, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong việc chuyển giao, góp vốn và thoái vốn, phân chia lợi ích sau thương mại hóa tài sản trí tuệ, ... cũng được quy định chặt chẽ thông qua các đơn vị đầu mối như Ban Khoa học-Công nghệ và Ban Pháp chế.
Tuy hoạt động phát triển và khai thác tài sản trí tuệ rất quan trọng và cấp thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, nhưng vẫn còn những điểm cần tháo gỡ để thúc đẩy thương mại hóa theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.
Hiện nay, thị trường công nghệ chưa thật sự phát triển ở trong nước do phần lớn doanh nghiệp chưa gắn liền việc phát triển doanh nghiệp với sáng chế và công nghệ bản quyền. Doanh nghiệp chưa chú trọng hay hình thành bộ phận R&D về công nghệ, từ đó làm giảm sức cạnh tranh và chấp nhận phụ thuộc nhập khẩu hàng hóa, thiết bị.
Để có thị trường công nghệ, cần có cung và cầu. Các sản phẩm công nghệ-tài sản trí tuệ phải được định giá để trở thành hàng hóa cung cấp cho thị trường này. Các doanh nghiệp và Nhà nước là những nơi đặt hàng, tạo nhu cầu. Vì vậy, cần có những chính sách rất cấp thiết cho thị trường này.
Đã có những sáng kiến và sự ra mắt một số sàn giao dịch công nghệ, nhưng để hoạt động thương mại hiệu quả đối với tài sản trí tuệ, cần có sự kiến tạo cơ chế của Nhà nước, cùng hoạt động của các quỹ đầu tư rủi ro để có sự kết nối, đầu tư công nghệ một cách chuyên nghiệp.
Những chính sách gần đây của Chính phủ đã đề cập đến mô hình liên kết 3 Nhà “Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp”, mở ra hy vọng sẽ sớm có những bước phát triển cho thị trường công nghệ.
Bên cạnh đó, hiện nay, nghiên cứu tại các trường, viện nghiên cứu vẫn thiên về công bố học thuật và có thể chịu tác động của nhu cầu xếp hạng. Việc chỉ dừng ở công bố khoa học, tương ứng với mức độ sẵn sàng công nghệ ở TRL3-4/9 dẫn đến sự không sẵn sàng cho chuyển giao công nghệ. Ngoại trừ lĩnh vực nghiên cứu thuần túy lý thuyết và khoa học cơ bản, không định hướng ứng dụng, thì việc nghiên cứu công nghệ chỉ dừng ở công bố sẽ không giúp nhà khoa học, người sáng tạo đi đến đích là chuyển giao và thương mại hóa công nghệ. Như vậy, cần sự đầu tư bài bản, với nguồn lực đủ lớn và liên tục, trên cơ sở đánh giá đầu ra đối với các nghiên cứu ứng dụng, giúp nhà khoa học theo đuổi và quyết tâm đến đích của sản phẩm.
Thực tế, nghiên cứu và sáng tạo khởi nghiệp là những hoạt động rủi ro cao, trong khi thu nhập của người làm khoa học, công nghệ và sáng tạo ở Việt Nam nói chung vẫn chưa ở mức tương đương như các nước phát triển. Điều kiện để con người tập trung trong sáng tạo và nghiên cứu nhìn chung vẫn khó khăn. Gần đây, đã có các chính sách về ưu đãi thuế, thu nhập không tính thuế cho nhà khoa học và doanh nghiệp khoa học, công nghệ được ban hành, nhưng vẫn cần sự triển khai thực tiễn để đánh giá, điều chỉnh.
Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, Luật Thủ đô 2026 mới ban hành cũng đã tháo gỡ về trách nhiệm khi nghiên cứu không thành công bởi lý do khách quan để bảo vệ người dám nghĩ, dám làm. Qua đó, mở ra khả năng huy động nguồn lực lớn hơn, đầu tư vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.











