'Tấm giấy thông hành' sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trong những năm qua, việc xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã góp phần quan trọng trong việc xác lập nguồn gốc, bảo vệ danh tiếng và nâng cao khả năng nhận diện cho nhiều sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, để chỉ dẫn địa lý thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh, cần một quá trình đồng bộ: từ tổ chức vùng sản xuất, duy trì chất lượng, kiểm soát việc sử dụng chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc đến xây dựng thương hiệu, kết nối phân phối và mở rộng thị trường trong nước, quốc tế.
Bài 1: Mở lối phát triển sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi
Cả nước có khoảng 130 chỉ dẫn địa lý, tập trung chủ yếu ở trái cây, thủy sản; riêng dược liệu chiếm khoảng 10%. Điều đó cho thấy chúng ta vẫn còn dư địa rất lớn để phát triển chỉ dẫn địa lý, đặc biệt đối với các sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Mỗi sản phẩm của bà con vùng dân tộc thiểu số có đặc thù riêng, cách thức tổ chức sản xuất riêng Ảnh: Đông Sơn
Chỉ dẫn địa lý không phải là “đũa thần”
Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cần nhìn nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý là câu chuyện xác lập, định vị danh tiếng và bảo vệ sản phẩm trước hành vi xâm phạm. Chỉ dẫn địa lý không phải là “đũa thần”, nghĩa là không phải cứ được bảo hộ thì sản phẩm sẽ tự động nâng cao giá trị hay mở rộng thị trường. Bảo hộ mới chỉ là bước ban đầu để sản phẩm tiếp cận thị trường một cách ổn định và bền vững hơn.
Thứ nhất, về mặt tài sản, chỉ dẫn địa lý là tài sản của quốc gia, của cộng đồng. Thứ hai, đây là công cụ giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia thị trường tốt hơn. Bản thân chỉ dẫn địa lý là “thương hiệu nền”, không phải yếu tố định vị duy nhất trên sản phẩm.
Cũng theo ông Huấn, vì chỉ dẫn địa lý là công cụ về sở hữu trí tuệ và thị trường, nên sau khi được bảo hộ, điều quan trọng là tổ chức vận hành và kiểm soát như thế nào để cả cộng đồng cùng có trách nhiệm, tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc nhằm bảo vệ và duy trì danh tiếng chung. Đây mới là thách thức, là bài toán đặt ra đối với Việt Nam hiện nay.

Ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Đông Sơn
Các địa phương vẫn đang nỗ lực thiết lập những mô hình phù hợp với từng sản phẩm, từng điều kiện cụ thể. Đặc biệt, khu vực miền núi phía Bắc và vùng đồng bào dân tộc thiểu số có rất nhiều sản phẩm mang giá trị bản địa. Chẳng hạn, Sơn La hiện có chè Shan tuyết Mộc Châu, cà phê Sơn La và nhiều sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý khác.
Để khai thác hiệu quả, cần thấy rằng mỗi sản phẩm có đặc thù riêng, cách thức tổ chức sản xuất riêng và cách tiếp cận thị trường riêng. Do đó, cộng đồng sản xuất và các địa phương cũng cần có cách tiếp cận phù hợp để đưa sản phẩm tham gia thị trường một cách bền vững.
Chỉ dẫn địa lý là công cụ xác lập nguồn gốc, danh tiếng và đặc thù của sản phẩm gắn với một vùng địa lý cụ thể, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của người tiêu dùng và gia tăng giá trị sản phẩm. Thực tế cho thấy, nhiều sản phẩm sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã tăng giá trị rõ rệt, như mật ong bạc hà Mèo Vạc (giá tăng gấp đôi), cam Cao Phong, cam Vinh, bưởi Phúc Trạch, nước mắm Phú Quốc…
Trao đổi với bà Nguyễn Thị Hạnh, Giám đốc Công ty Giống lâm nghiệp vùng Đông Bắc (trụ sở tại tỉnh Lạng Sơn), phóng viên được biết, tại nhiều địa phương miền núi của tỉnh Lạng Sơn, các sản phẩm đặc sản như quế, hồi, thảo quả và các loại dược liệu đang từng bước khẳng định vị thế nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa và kinh nghiệm canh tác lâu đời. Chỉ dẫn địa lý góp phần xác lập danh tiếng sản phẩm gắn với địa danh, tạo cơ sở để phân biệt hàng hóa có nguồn gốc rõ ràng với sản phẩm thông thường. Đây cũng là tiền đề để các địa phương phát triển sản phẩm OCOP, mở rộng kênh phân phối và kết nối với doanh nghiệp chế biến, hệ thống bán lẻ.

Bà Nguyễn Thị Hạnh, Giám đốc Công ty Giống lâm nghiệp vùng Đông Bắc, trụ sở tại tỉnh Lạng Sơn (ngoài cùng bên phải) Ảnh: Đông Sơn
Dẫu vậy, không ít sản phẩm sau khi được bảo hộ vẫn chưa phát huy hết giá trị. Sản xuất còn phân tán, quy mô hộ nhỏ lẻ, chất lượng giữa các lô hàng chưa đồng đều; việc ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, đóng gói và quảng bá chưa chuyên nghiệp. Một số hộ vẫn chủ yếu bán nguyên liệu thô qua thương lái, phụ thuộc vào biến động giá cả, chưa tiếp cận trực tiếp các thị trường có yêu cầu cao. Điều đó cho thấy, chỉ dẫn địa lý chỉ là lợi thế ban đầu, không tự động bảo đảm đầu ra hay làm tăng thu nhập nếu thiếu quy trình sản xuất chuẩn hóa và chiến lược thương mại phù hợp.
Từ lợi thế chỉ dẫn địa lý đến sản phẩm có giá trị cao
Một số mô hình sản xuất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy, khi người dân biết kết hợp lợi thế bản địa với phương thức kinh doanh chuyên nghiệp, sản phẩm đặc sản có thể chuyển từ hàng hóa nguyên liệu sang những dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Điển hình là chè Shan tuyết tại Suối Giàng, tỉnh Yên Bái trước đây. Ngày 4/11/2022, sản phẩm chè Shan tuyết được cấp chỉ dẫn địa lý “Suối Giàng Văn Chấn”, tạo thêm cơ sở pháp lý để bảo vệ danh tiếng và chất lượng đặc trưng của sản phẩm.
Tại đây, HTX Suối Giàng đã đầu tư hơn 2 tỷ đồng xây dựng nhà xưởng, trang bị máy móc với công suất chế biến 2 tấn chè búp tươi mỗi ngày. Hợp tác xã đồng thời áp dụng truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, xây dựng nhà xưởng đạt tiêu chuẩn HACCP và liên kết bao tiêu nguyên liệu với các hộ trồng chè. Sản phẩm Tuyết Sơn Trà đạt OCOP 4 sao, trong khi giá chè thành phẩm dao động từ 400.000 đồng đến 4 triệu đồng/kg tùy dòng sản phẩm.
Một ví dụ khác là chè Shan tuyết Hồng Thái, tỉnh Tuyên Quang. Hợp tác xã Sơn Trà do ông Đặng Ngọc Phố làm giám đốc đã phát triển vùng nguyên liệu 64 ha, trong đó có khoảng 29 ha chè cổ thụ trên 100 năm tuổi. Mô hình chú trọng canh tác theo hướng hạn chế hóa chất, giữ gìn chất lượng nguyên liệu và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm trà. Đây là hướng đi cho thấy người sản xuất có thể khai thác giá trị của giống cây bản địa thông qua tổ chức vùng nguyên liệu và chế biến có định hướng thị trường.
Từ những mô hình trên, có thể thấy yếu tố quyết định không chỉ nằm ở danh tiếng địa phương hay chứng nhận bảo hộ, mà còn ở năng lực tổ chức sản xuất của người dân. Những nông hộ làm ăn bài bản cần tuân thủ quy trình canh tác, ghi chép nhật ký sản xuất, bảo đảm chất lượng đồng đều, chủ động sơ chế và liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp. Khi có sản lượng ổn định, bao bì phù hợp, thông tin nguồn gốc minh bạch và kênh bán hàng đa dạng, sản phẩm mới có cơ hội tiếp cận những phân khúc khách hàng có khả năng chi trả cao hơn.
(Còn nữa)
Bài 2: Giải bài toán gia tăng giá trị cho sản phẩm vùng dân tộc thiểu số
