Tầm nhìn chiến lược, tạo thế chủ động cho cả hệ thống, giữ vững an ninh năng lượng

Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, năng lượng đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia, tác động trực tiếp đến tăng trưởng và đời sống. Các chủ trương, chính sách gần đây đều nhấn mạnh yêu cầu chủ động, ứng phó kịp thời, bảo đảm không bị động trước mọi tình huống về năng lượng.

Trong một thế giới nhiều biến động, năng lượng không còn là câu chuyện riêng của ngành điện, dầu khí hay xăng dầu mà đã trở thành vấn đề của an ninh quốc gia. Thiếu điện, đứt nguồn cung nhiên liệu, giá năng lượng tăng sốc đều có thể tác động trực tiếp tới tăng trưởng, lạm phát, trật tự thị trường và đời sống nhân dân. Từ Nghị quyết 70 và Kết luận 14 của Bộ Chính trị đến những quyết sách rất nhanh của Chính phủ thời gian gần đây, có thể thấy rõ một yêu cầu xuyên suốt: Phải chủ động từ sớm, ứng phó kịp thời, không để đất nước bị động, bất ngờ về năng lượng trong bất cứ tình huống nào.

Đặt an ninh năng lượng đúng tầm của một vấn đề chiến lược

Muốn xử lý đúng, trước hết phải nhìn đúng. An ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm đủ điện cho sản xuất, đủ xăng dầu cho lưu thông, đủ than và khí cho vận hành hệ thống. Sâu xa hơn, đó là bảo đảm cho nền kinh tế không bị hụt nhịp, cho thị trường không bị xáo trộn và cho đời sống nhân dân không bị tác động nặng nề bởi những cú sốc từ bên ngoài.

Khi giá năng lượng tăng mạnh, chi phí sản xuất tăng theo. Khi chi phí đầu vào tăng, giá hàng hóa chịu áp lực. Khi giá cả biến động lớn, lạm phát bị đẩy lên. Khi lạm phát tăng, ổn định vĩ mô bị thử thách. Và khi ổn định vĩ mô bị tác động, niềm tin thị trường và tâm lý xã hội cũng bị ảnh hưởng. Đó là một chuỗi liên kết rất rõ.

PGS.TS Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính).

PGS.TS Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính).

Chính vì vậy, an ninh năng lượng phải được nhìn như một bộ phận hữu cơ của an ninh kinh tế. Mà an ninh kinh tế ổn định thì mới tạo nền cho an ninh xã hội, cho quốc phòng, an ninh và cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.

Tinh thần đó đã được Bộ Chính trị xác lập rất rõ trong Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Điều đáng chú ý là nghị quyết không chỉ nêu quan điểm chung, mà đặt ra một định hướng rất rõ: Phát triển năng lượng phải đi trước một bước; phải đồng bộ, hợp lý, đa dạng, hiện đại; phải khai thác hiệu quả các nguồn trong nước, đồng thời nâng cao năng lực dự trữ, nhập khẩu, truyền tải và điều độ để không bị động trước biến động bên ngoài.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất nguồn điện khoảng 183-236 GW, tổng sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh. Ở đây, cái đáng chú ý không chỉ là các con số. Điều quan trọng hơn là tư duy chỉ đạo. Bộ Chính trị đã đặt năng lượng vào đúng vị trí của nó: Không phải chỉ là đầu vào kỹ thuật của sản xuất, mà là nền móng của tăng trưởng và ổn định quốc gia. Một nền kinh tế muốn tăng tốc thì năng lượng phải đủ. Một quốc gia muốn giữ vững ổn định thì năng lượng phải an toàn. Một đất nước muốn nâng cao tính tự chủ thì không thể để hệ thống năng lượng rơi vào trạng thái bị động trước những cú sốc quốc tế.

Sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn.

Sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn.

Trong bối cảnh đó, Kết luận số 14-KL/TW ngày 20/3/2026 của Bộ Chính trị càng cho thấy rõ sự chủ động và nhạy bén trong lãnh đạo, chỉ đạo. Kết luận nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm nguồn cung, ổn định giá nhiên liệu trong tình hình mới; giảm thiểu tác động tiêu cực của biến động giá nguyên liệu, nhiên liệu tới sản xuất, kinh doanh, đời sống nhân dân, ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh trật tự xã hội; đồng thời yêu cầu sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn.

Ý nghĩa lớn nhất của Kết luận 14 là ở chỗ nó được ban hành đúng thời điểm thị trường năng lượng thế giới đứng trước nhiều bất ổn mới. Khi rủi ro gia tăng, chỉ đạo phải đến sớm. Khi nguy cơ tác động lan rộng, mệnh lệnh phải đủ rõ. Khi thị trường dễ bị ảnh hưởng về tâm lý, thông điệp điều hành phải đủ mạnh để trấn an.

Kết luận 14 cho thấy rõ một điều với năng lượng, không thể chờ biến động thành khủng hoảng rồi mới xử lý. Phải phát hiện sớm. Phải chuẩn bị sớm. Và phải hành động thật nhanh. Đó là tư duy rất đúng. Bởi năng lượng là lĩnh vực đặc biệt. Chỉ một độ trễ nhỏ trong nhận diện hoặc điều hành cũng có thể dẫn tới hệ quả lớn. Chậm điều chỉnh nguồn cung, thị trường có thể thiếu cục bộ. Chậm xử lý giá, sức ép chi phí sẽ lan sang doanh nghiệp và người dân. Chậm phát tín hiệu điều hành, tâm lý đầu cơ, tích trữ có thể xuất hiện. Vì thế, giá trị lớn nhất của chỉ đạo chiến lược ở đây là tạo ra thế chủ động cho cả hệ thống.

Phản ứng nhanh của Chính phủ cho thấy bản lĩnh điều hành

Nếu Nghị quyết 70 và Kết luận 14 là trục chỉ đạo chiến lược, thì những gì Chính phủ triển khai thời gian gần đây cho thấy rất rõ năng lực phản ứng nhanh trong điều hành. Đây là điểm rất quan trọng, trong bối cảnh biến động quốc tế diễn ra nhanh, tác động rộng và khó lường, điều hành năng lượng không thể theo kiểu chậm một nhịp. Chính phủ đã không đứng ngoài quan sát. Cũng không chờ khó khăn bộc lộ rõ trên thị trường trong nước rồi mới hành động. Phản ứng đã được triển khai sớm, có tổ chức và theo cơ chế rõ ràng.

Giữ đủ nguồn cung, hạn chế tác động tăng giá, bảo vệ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.

Giữ đủ nguồn cung, hạn chế tác động tăng giá, bảo vệ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.

Ngày 4/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 385/QĐ-TTg thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp tại Trung Đông. Tổ công tác do Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn làm Tổ trưởng, với sự tham gia của các bộ, ngành liên quan. Đây là bước đi rất đáng chú ý, cho thấy Chính phủ nhìn đúng tính chất của vấn đề: Năng lượng không thể xử lý đơn lẻ bởi một cơ quan, mà cần cơ chế điều phối liên ngành, theo dõi sát tình hình, cập nhật thường xuyên và phản ứng thống nhất.

Trong quản trị khủng hoảng, điều nguy hiểm không chỉ là thiếu nguồn cung, thiếu phối hợp. Nếu thông tin không thông suốt, quyết định sẽ chậm. Nếu quyết định chậm, thị trường dễ phản ứng tiêu cực. Nếu mỗi nơi làm một cách, hiệu quả điều hành sẽ giảm. Việc thành lập Tổ công tác cho thấy Chính phủ đã lựa chọn đúng cách làm có đầu mối, có phân công, có trách nhiệm và có cơ chế xử lý nhanh.

Tiếp đó, Bộ Công Thương ban hành Chỉ thị số 06/CT-BCT ngày 9/3/2026 về tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của xung đột tại Trung Đông. Chỉ thị yêu cầu bám sát diễn biến, bảo đảm nguồn cung, thực hiện nghiêm trách nhiệm dự trữ và cung ứng, không để xảy ra gián đoạn cục bộ. Điều đó cho thấy phản ứng của Chính phủ không dừng ở tầm chỉ đạo chung, mà đã đi thẳng vào các khâu thực thi then chốt của chuỗi cung ứng năng lượng. Một bước đi khác cũng rất đáng chú ý là mở nhanh dư địa chính sách để hỗ trợ ứng phó. Theo thông tin công bố, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh về 0% trong thời gian từ ngày 9/3 đến 30/4/2026.

Đây không chỉ là một biện pháp tài chính. Đây là thông điệp điều hành. Nhà nước sẵn sàng dùng công cụ chính sách để hỗ trợ tăng tính linh hoạt về nguồn cung, giảm áp lực chi phí và góp phần bình ổn thị trường trong nước khi giá thế giới biến động mạnh. Điều đáng ghi nhận là phản ứng nhanh nhưng không vội vã. Nhanh ở đây là nhanh về nhận diện vấn đề, nhanh về thiết lập cơ chế ứng phó, nhanh về sử dụng công cụ điều hành. Nhưng tất cả đều hướng vào một mục tiêu rất rõ: Giữ đủ nguồn cung, hạn chế tác động tăng giá, bảo vệ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.

Các nhà máy lọc dầu trong nước vẫn duy trì vận hành, góp phần tạo nền cung ứng quan trọng.

Các nhà máy lọc dầu trong nước vẫn duy trì vận hành, góp phần tạo nền cung ứng quan trọng.

Ngày 21/3/2026, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ để rà soát toàn bộ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành từ cuối tháng 2 đến nay trong ứng phó với khủng hoảng năng lượng và triển khai Kết luận 14 của Bộ Chính trị. Tại cuộc họp, các ý kiến đánh giá tình hình đến nay cơ bản được kiểm soát tốt, an ninh năng lượng được bảo đảm. Thủ tướng yêu cầu phải chủ động đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng, xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; không để bị động, bất ngờ trong bất cứ tình huống nào.

Thông điệp này rất đáng chú ý, cho thấy Chính phủ nhìn rõ bản chất của vấn đề. Năng lượng không đơn thuần là hàng hóa. Đây là đầu vào của đời sống kinh tế - xã hội. Nếu điện thiếu, sản xuất bị ảnh hưởng. Nếu xăng dầu đứt quãng, lưu thông và vận tải gặp khó. Nếu giá nhiên liệu tăng mạnh mà không kiểm soát tốt, mặt bằng giá có thể bị xáo trộn. Mà một khi giá cả, sản xuất và tâm lý thị trường cùng chịu tác động, thì ổn định xã hội cũng bị đặt trước sức ép.

Có thể nói, phản ứng nhanh của Chính phủ lần này thể hiện ba điều đáng ghi nhận. Thứ nhất là nhanh về thời điểm. Thứ hai là chặt về cơ chế. Thứ ba là đồng bộ về công cụ. Chính ba yếu tố đó đã tạo ra hiệu quả điều hành thực chất, thay vì chỉ dừng ở những mệnh lệnh hình thức.

Giữ ổn định hôm nay, xây sức chống chịu cho ngày mai

Một chủ trương đúng và một phản ứng nhanh cuối cùng vẫn phải được kiểm chứng bằng kết quả thực tế. Và nhìn vào diễn biến thời gian qua, có thể thấy Việt Nam đang giữ được thế chủ động tương đối về năng lượng.

Ở lĩnh vực xăng dầu, Bộ Công Thương cho biết, nguồn cung cho thị trường trong tháng 3/2026 cơ bản được bảo đảm. Cùng với lượng dự trữ lưu thông tại doanh nghiệp theo quy định, các thương nhân đầu mối tiếp tục nhập khẩu xăng dầu thành phẩm để cung ứng cho thị trường. Trong khi đó, các nhà máy lọc dầu trong nước vẫn duy trì vận hành, góp phần tạo nền cung ứng quan trọng. Điều này có ý nghĩa lớn. Bởi điều hành xăng dầu không chỉ là bảo đảm có hàng. Điều quan trọng không kém là bảo đảm niềm tin thị trường.

Khi Nhà nước nắm chắc nguồn cung, điều hành sát thị trường và sử dụng kịp thời các công cụ chính sách, tâm lý bất an sẽ giảm. Mà khi tâm lý ổn định, nguy cơ đầu cơ, tích trữ và xáo trộn thị trường cũng giảm theo.

Về giá, công cụ Quỹ bình ổn giá xăng dầu tiếp tục được sử dụng để giảm mức độ truyền dẫn của biến động quốc tế vào giá trong nước. Theo thông tin điều hành ngày 19/3/2026, quỹ được chi ở mức cao để hỗ trợ giảm mức tăng giá. Đây không phải giải pháp căn cơ lâu dài, nhưng trong bối cảnh biến động mạnh, đó là công cụ cần thiết để góp phần ổn định thị trường và giảm bớt áp lực chi phí lên người dân, doanh nghiệp.

Các kỹ sư vận hành Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Các kỹ sư vận hành Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Ở lĩnh vực điện, nền tảng cung ứng cũng cho thấy khả năng chống chịu đã được cải thiện. EVN cho biết năm 2025 điện thương phẩm ước đạt 287,9 tỷ kWh, chỉ số SAIDI toàn Tập đoàn khoảng 230 phút. Trong hai tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt trên 48,2 tỷ kWh, tăng 7,09% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng điện thương phẩm đạt 43,5 tỷ kWh, tăng 8,46%. Những con số đó cho thấy một thực tế: Nhu cầu năng lượng của nền kinh tế đang tăng lên cùng với đà phục hồi và mở rộng sản xuất.

Theo Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm 2026 tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp tăng tốc thì nhu cầu điện, nhiên liệu và logistics tăng theo. Điều đó đồng nghĩa với việc an ninh năng lượng không chỉ là bài toán ứng phó rủi ro, mà còn là điều kiện nền tảng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới.

Nhìn từ đây có thể thấy rất rõ an ninh năng lượng của Việt Nam hiện nay phải được bảo vệ trên hai tầng. Tầng thứ nhất là ứng phó trước mắt phải đủ điện, đủ xăng dầu, phải kiểm soát tác động tăng giá, phải giữ thông suốt sản xuất, lưu thông và đời sống dân sinh. Tầng thứ hai là xây nền tảng lâu dài phải hoàn thiện thể chế, phải tăng năng lực dự trữ, phải đa dạng hóa nguồn cung, phải phát triển hạ tầng LNG, các dự án nguồn điện và lưới truyền tải, phải đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phải xây dựng cơ cấu năng lượng hiện đại hơn, bền vững hơn và có sức chống chịu cao hơn.

Tinh thần này đã được xác lập trong Nghị quyết 70 và được Chính phủ cụ thể hóa bằng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Đây là bài học rất quan trọng. Nếu chỉ lo xử lý trước mắt, chúng ta có thể vượt qua một đợt khó khăn nhưng chưa chắc đã đứng vững trước những cú sốc lớn hơn trong tương lai. Ngược lại, nếu chỉ nói chuyện chiến lược dài hạn mà thiếu phản ứng tức thời, thiệt hại vẫn có thể xảy ra ngay trong hiện tại. Vì vậy, muốn giữ vững an ninh năng lượng thì phải làm chắc cả hai đầu: Ứng phó kịp thời và chuẩn bị căn cơ.

Ở tầm rộng hơn, bảo đảm an ninh năng lượng hôm nay cũng là một phép thử đối với năng lực quản trị quốc gia. Một quốc gia mạnh không chỉ là quốc gia có nguồn lực, mà còn là quốc gia biết phát hiện sớm rủi ro, tổ chức phản ứng nhanh và giữ được ổn định trước các cú sốc từ bên ngoài. Từ Nghị quyết 70, Kết luận 14 đến chuỗi hành động của Chính phủ trong tháng 3/2026, có thể thấy rõ tinh thần đó nhìn xa hơn, chuẩn bị sớm hơn, hành động nhanh hơn và phối hợp chặt chẽ hơn. Giữ vững an ninh năng lượng, vì thế, không chỉ là giữ cho đèn sáng, xăng dầu đủ và nhà máy vận hành.

Sâu xa hơn, đó là giữ nhịp phát triển của đất nước, giữ niềm tin của doanh nghiệp, giữ sự yên tâm của người dân và giữ thế chủ động chiến lược của quốc gia trong một thế giới đầy biến động. Khi chỉ đạo chiến lược của Đảng đã rõ, khi phản ứng điều hành của Chính phủ đã nhanh, khi các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp cùng hành động đồng bộ, thì đó chính là cơ sở quan trọng để Việt Nam không chỉ vượt qua những biến động trước mắt, mà còn từng bước xây dựng một nền an ninh năng lượng vững chắc hơn, hiện đại hơn và có sức chống chịu cao hơn. Đó không chỉ là yêu cầu kinh tế. Đó là yêu cầu của ổn định. Đó là yêu cầu của phát triển. Và hơn hết, đó là yêu cầu của an ninh quốc gia...

PGS. TS Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long

Nguồn CAND: https://cand.com.vn/kinh-te/tam-nhin-chien-luoc-tao-the-chu-dong-cho-ca-he-thong-giu-vung-an-ninh-nang-luong--i800378/