Tầm nhìn đột phá trong phát triển khoa học vũ trụ

Từ thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, vũ trụ được nhìn nhận như một không gian phát triển mới, gắn trực tiếp với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng và năng lực quản trị quốc gia. Chính vì vậy, việc phát triển khoa học vũ trụ được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định là nhiệm vụ chiến lược.

Hành trình chinh phục không gian

Phi công Phạm Tuân trở thành nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam bay vào vũ trụ, ngày 23/7/1980, trên tàu Liên hợp 37 cùng nhà du hành vũ trụ Liên Xô Vichtor Gorbatko. Ảnh tư liệu: Tiến Dũng/TTXVN

Phi công Phạm Tuân trở thành nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam bay vào vũ trụ, ngày 23/7/1980, trên tàu Liên hợp 37 cùng nhà du hành vũ trụ Liên Xô Vichtor Gorbatko. Ảnh tư liệu: Tiến Dũng/TTXVN

Năm 1980, Việt Nam trở thành quốc gia châu Á đầu tiên có người bay vào vũ trụ. Chuyến bay của Anh hùng Phạm Tuân khi ấy không chỉ là niềm tự hào mà còn gieo vào nhiều thế hệ người Việt một giấc mơ lớn hơn về chinh phục không gian. Từ đó, hành trình chinh phục không gian của Việt Nam được khởi động khi Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) tham gia Ủy ban Nghiên cứu Vũ trụ Quốc gia. Với tầm nhìn của các bậc tiền bối như Viện sĩ Trần Đại Nghĩa và Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, Viện Hàn lâm đã tham gia đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành công nghệ vũ trụ của đất nước.

Tuy nhiên, phải đến sau năm 2006, khi chiến lược công nghệ vũ trụ được khởi động lại, giấc mơ ấy mới từng bước được đưa vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Viện Hàn lâm đã đóng vai trò tiên phong trong triển khai thực hiện Chiến lược Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vũ trụ từ đó đến nay và tầm nhìn 2030 với các dự án trọng điểm như: Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Dự án vệ tinh VNREDSat-1...

Ngày 4/8/2013, vệ tinh Pico Dragon của Việt Nam đã được đưa vào không gian. Đây là vệ tinh đầu tiên do Việt Nam tự phát triển, được phóng lên quỹ đạo và thu tín hiệu thành công đánh dấu cột mốc quan trọng cho công nghệ vũ trụ do Việt Nam làm chủ. Tiếp đó, vệ tinh MicroDragon và vệ tinh NanoDragon do các kỹ sư Việt Nam thiết kế, chế tạo tiếp tục được phóng lên quỹ đạo. Đặc biệt, vệ tinh NanoDragon là một sản phẩm nằm trong lộ trình phát triển Vệ tinh nhỏ mang thương hiệu Việt Nam của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.

Gần đây nhất, vệ tinh radar mang tên LOTUSat-1 mang thương hiệu Việt Nam cũng đã chế tạo xong từ năm 2025, đang sẵn sàng phóng lên quỹ đạo. LOTUSat-1 có trọng lượng 600kg, với khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, quan sát cả ngày lẫn đêm, phát hiện vật thể kích thước từ 1m trên mặt đất. Vệ tỉnh radar LOTUSat-1 tiếp tục đánh dấu bước tiến trong làm chủ công nghệ tiên tiến.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam cho biết, Trung tâm đã xây dựng nền tảng vững chắc với 4 trụ cột gồm: Công nghệ vũ trụ với việc dần hình thành đội ngũ cán bộ có trình độ cao, cơ sở hạ tầng hiện đại để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và vận hành các vệ tinh mang thương hiệu Việt Nam; ứng dụng công nghệ vũ trụ với việc xử lý ảnh vệ tinh được đẩy mạnh nhờ những ứng dụng cộng nghệ hiện đại như ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xử lý dữ liệu lớn; khoa học vũ trụ từ công tác nghiên cứu về vật lý thiên văn với vị thế đáng tự hào trong khu vực ASEAN và trên thế giới. Cuối cùng là công tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và phổ biến kiến thức vũ trụ được chú trọng.

Hiện thực hóa giấc mơ "Vũ trụ Việt Nam bay lên"

Trong thực tế, những lợi ích của công nghệ vũ trụ không nằm trên quỹ đạo xa xôi mà hiện hữu ngay dưới mặt đất. Trước đây, khi xảy ra lũ lụt hay thiên tai, Việt Nam phải nhờ hoặc đặt hàng ảnh vệ tinh nước ngoài. Quy trình đó thường chậm, không kịp thời. Nếu chủ động được vệ tinh, các cơ quan chức năng có thể dự báo sớm nguy cơ sạt lở, lũ quét, qua đó giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản. Trong nông nghiệp, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC) đã có nhóm nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh để đánh giá tốc độ phát triển và dự báo sản lượng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Công nghệ vũ trụ cũng mang lại những lợi ích quan trọng trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, chủ quyền dữ liệu luôn gắn chặt với chủ quyền quốc gia, do vậy việc làm chủ vệ tinh là yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, mục tiêu dài hạn mà Trung tâm Vũ trụ Việt Nam hướng tới là xây dựng một trung tâm quan sát quốc gia sử dụng viễn thám, nơi dữ liệu từ vệ tinh, máy bay và máy bay không người lái (UAV) được tích hợp, xử lý. “Các nhà quản lý có thể có đầy đủ dữ liệu được cập nhật liên tục để chỉ đạo trực tiếp các vấn đề như cháy rừng, lũ lụt, sạt lở,… trên phạm vi cả nước. Việt Nam hoàn toàn làm được điều này”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn khẳng định.

Để hiện thực hóa giấc mơ "Vũ trụ Việt Nam bay lên", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đề xuất Chính phủ cần sớm ban hành Chiến lược Vũ trụ Quốc gia tầm nhìn đến năm 2045. Từ chiến lược và tầm nhìn dài hạn đó, Việt Nam sớm có chùm vệ tinh quan sát Quốc gia với thương hiệu Việt Nam. Cùng với đó, có chính sách đột phá, linh hoạt nhằm thu hút, đãi ngộ và giữ chân đội ngũ nhà khoa học trẻ. Đồng thời chú trọng bồi dưỡng, tạo điều kiện để có được “Tổng công trình sư” đóng vai trò dẫn dắt, chủ trì các chương trình, dự án trọng yếu, đặc biệt là các nhiệm vụ chiến lược quốc gia trong lĩnh vực vũ trụ.

Ngoài ra, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Anh Tuấn cũng đề xuất việc ứng dụng dữ liệu vệ tinh cần được đẩy mạnh, từ quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp thông minh đến đảm bảo an ninh quốc gia. Dữ liệu này cần được tích hợp vào Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, trở thành tài sản quý giá phục vụ phát triển đất nước.

Quyết Chiến (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/tri-tue-viet/tam-nhin-dot-pha-trong-phat-trien-khoa-hoc-vu-tru-20260306161338324.htm