Tầm nhìn và khát vọng Tự chủ - Thịnh vượng - Bền vững
Tròn 80 năm thành lập nước là dịp nhìn lại chặng đường đã qua với niềm tự hào về những thành tựu to lớn; cũng là thời khắc định hình tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng, cạnh tranh toàn cầu và chuyển đổi xanh - số đang diễn ra mạnh mẽ. Đó là khát vọng: Tự chủ - Thịnh vượng - Bền vững.
Nền kinh tế vươn mình mạnh mẽ
Trải qua 8 thập kỷ, Việt Nam đã vượt qua chiến tranh, bao vây cấm vận, khủng hoảng kinh tế và nhiều biến động toàn cầu để vươn lên.
Từ một nước nghèo, thu nhập thấp nước ta trở thành nền kinh tế có quy mô gần 470 tỷ USD năm 2024, đứng thứ 5 ASEAN, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.700 USD, gấp hơn 2,9 lần so với năm 2010.
Từ một nước thuộc địa có nền nông nghiệp lạc hậu, không đủ lương thực, phải đối mặt với nạn đói, đến nay, Việt Nam đã là một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mức cao kỷ lục 62,5 tỷ USD, xuất siêu 17,9 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay; riêng xuất khẩu gạo đạt hơn 9 triệu tấn, thu về 5,75 tỷ USD. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%, chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng cải thiện.

Từ một nước thiếu đói, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo. Ảnh: Lam Anh
Từ một nền kinh tế bị cấm vận, cô lập của quốc tế, kinh tế kiệt quệ, hiện Việt Nam đã thu hút hơn 43.300 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 517 tỷ USD (lũy kế đến ngày 31/5/2025). Việt Nam cũng là một trong những nền kinh tế hội nhập sâu rộng nhất, với 17 hiệp định thương mại tự do, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 400 tỷ USD trong năm 2024. Việt Nam trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia và đảm nhiệm nhiều trọng trách trong các tổ chức đa phương…
Để có được những thành quả này chính là từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đặc biệt là đường lối Đổi mới từ năm 1986, chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng với việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, thể chế không ngừng được hoàn thiện, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, ưu tiên an sinh xã hội. Và đó còn là sức mạnh nội sinh của dân tộc, với truyền thống tự lực, tự cường, tinh thần đổi mới sáng tạo, khát vọng vươn lên. Chúng ta giữ được hòa bình, ổn định chính trị, xã hội - đây là nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư, hội nhập sâu, duy trì tăng trưởng bền vững.

Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast. Ảnh: T.L
Khát vọng hùng cường dựa trên 3 trụ cột chiến lược
Bước vào giai đoạn hậu 80 năm, Việt Nam đối diện đồng thời cơ hội vàng và thách thức mới: sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, Cách mạng Công nghiệp 4.0, yêu cầu chuyển đổi năng lượng, già hóa dân số, áp lực biến đổi khí hậu, và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc.
"Chúng ta giữ được hòa bình, ổn định chính trị, xã hội - đây là nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư, hội nhập sâu, duy trì tăng trưởng bền vững".
Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Khát vọng hậu 80 năm được lượng hóa bằng những mục tiêu cụ thể: Đến 2030 GDP đạt trên 750 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng 7.500 USD, năng suất lao động tăng tối thiểu 6,5%/năm. Đến 2045 GDP vượt 1.500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 18.000 USD, trở thành nền kinh tế đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.
Để đạt được, tầm nhìn hậu 80 năm cần dựa trên ba trụ cột chiến lược.
Nền kinh tế tự chủ và hội nhập sâu. Tự chủ là xây dựng năng lực nội tại đủ mạnh để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời bảo vệ sản xuất trong nước. Phát triển công nghiệp nền tảng và công nghệ lõi: bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượng tái tạo. Xây dựng chuỗi cung ứng trong nước gắn với khu vực FDI, nâng tỷ lệ nội địa hóa lên trên 60% vào năm 2035.
Tăng trưởng xanh và kinh tế số. Kinh tế xanh thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, phát triển thị trường carbon, năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi, điện mặt trời áp mái, hydrogen xanh). Mục tiêu đến 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP, mọi doanh nghiệp đều ứng dụng nền tảng số, hạ tầng dữ liệu quốc gia đồng bộ, an toàn.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Cải cách căn bản giáo dục và đào tạo nghề, chú trọng STEM, kỹ năng số, tư duy sáng tạo. Thu hút nhân tài toàn cầu, kết nối mạng lưới chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài. Đẩy mạnh y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe cộng đồng để bảo đảm “dân số vàng” không bị lãng phí.
Giải pháp chiến lược cho giai đoạn mới
Để biến khát vọng thành hiện thực, cần đồng bộ các giải pháp sau:
Cải cách thể chế và nâng cao năng lực quản trị. Nền kinh tế muốn bứt phá cần bắt đầu từ gốc rễ là cải cách thể chế. Việt Nam cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, minh bạch, bảo đảm cạnh tranh công bằng, xóa bỏ các rào cản kinh doanh và cắt giảm 30 - 50% thời gian thực hiện thủ tục hành chính để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Song song, cần sửa đổi, đồng bộ hóa các đạo luật quan trọng như Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp… nhằm tạo động lực cho khu vực tư nhân, thu hút FDI chất lượng cao và thúc đẩy các dự án đối tác công - tư (PPP). Cải cách phải gắn liền với phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, nhưng đi kèm là cơ chế giám sát chặt chẽ và minh bạch trách nhiệm giải trình, bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục tiêu và vì lợi ích chung.
Phát triển thị trường vốn và đổi mới tài chính. Hệ thống tài chính cần được nâng tầm để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho phát triển. Việt Nam cần hoàn thiện thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời xây dựng Quỹ đầu tư tài sản tài chính quốc gia theo mô hình GIC Singapore để quản lý và sinh lời hiệu quả nguồn lực quốc gia.

Hiện, Việt Nam thu hút hơn 500 tỷ USD vốn FDI, trong đó có Samsung. Ảnh: SSV
Các công cụ tài chính xanh, tài chính vi mô, quỹ đầu tư hạ tầng và đổi mới sáng tạo phải được mở rộng quy mô và tiếp cận dễ dàng hơn, giúp huy động nguồn lực xã hội hóa cho các dự án chiến lược.
Chuyển đổi năng lượng và phát triển hạ tầng. Thực hiện Quy hoạch điện VIII là chìa khóa cho an ninh năng lượng dài hạn. Việt Nam cần ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, lưới điện thông minh, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt và an toàn của hệ thống. Về hạ tầng, cần hoàn thiện mạng lưới giao thông liên vùng, đầu tư cảng biển nước sâu và sân bay trung chuyển quốc tế để tăng năng lực logistics. Trong kỷ nguyên số, hạ tầng số trở thành nền tảng mới của phát triển, đòi hỏi đầu tư mạnh vào mạng 5G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và an ninh mạng, tạo nền tảng cho nền kinh tế số và chính phủ số.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nghiên cứu – phát triển (R&D). Đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực trung tâm. Việt Nam cần nâng chi cho R&D lên 1,5 – 2% GDP vào năm 2030, tương đương các nền kinh tế tiên tiến trong khu vực.
Các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia cần được kết nối chặt chẽ với đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp toàn diện với sự tham gia của quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế chia sẻ rủi ro và chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ.
Bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Tăng trưởng chỉ bền vững khi đi đôi với công bằng xã hội. Cần mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội đến toàn dân, triển khai chính sách nhà ở xã hội và đào tạo lại lao động khi ngành nghề thay đổi do chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bảo vệ môi trường phải trở thành một tiêu chí của mọi dự án phát triển. Điều này bao gồm phục hồi hệ sinh thái, bảo đảm an ninh nguồn nước và an ninh lương thực, góp phần ổn định xã hội và củng cố niềm tin của người dân.
Kiên định cải cách, sáng tạo và hội nhập, sẵn sàng trở thành điểm đến đầu tư an toàn, hấp dẫn và bền vững trong kỷ nguyên biến động, Việt Nam sẽ vững bước trong hàng ngũ các quốc gia phát triển thịnh vượng, hùng cường.