Tản văn Nguyễn Ngọc Tư: Tro lá
Từng có một quãng chị sợ những ngày mưa, bị nước nhốt trong nhà, thấy ngày dài đến không chịu nổi. Có lau dọn bao lượt những tủ kệ những gầm giường cũng chẳng ăn thua. Nhưng nhìn xuyên qua giông mưa có gì đó hứa hẹn. Một mai khô tạnh lại, vườn đầy lá cho mà coi. Lúc đó quét đã đời. Và đống lửa cuối ngày chắc là rất đượm.
Hồi đầu thì chị quét vườn lúc sáng sớm hoặc chiều tà, lúc trời ít gió. Nhưng ngày thì rộng quá, chị quét cả lúc xế trưa, quãng vừa ngủ dậy lơ ngơ không biết phải đứng ngồi sao. Cây chổi được nối cán dài cán, để khỏi khom lưng, quét lâu không mỏi. Chỉ khi sạch tinh bờ sau liếp trước rồi, vun đống lá lên cao, bao gồm cả mớ cỏ dại mà chị tiện tay tóm rễ lên phơi trần trụi dưới mặt trời, chị mới vô bếp nấu bữa chiều. Một mình thì cơm nguội canh suông cũng xong. Vừa bới tô cơm vừa nghĩ về đám lửa chốc nữa sẽ khơi ở sân sau. Và khói sẽ lẩn quẩn lâu.

Từ ông chồng bỏ đi, mấy đứa cháu ngoại theo mẹ nó định cư xứ khác, chị thành một bản sao của bà cô mình. Người mà má chị nói dành cả cuộc đời để chống trả từng hạt bụi, từng sợi rơm, cọng cỏ. Giọng má không thèm giấu mỉa mai, cay đắng khi miêu tả bà chị chồng, “tới lá về cội mà cô mầy còn không cho luôn mà, đáng lẽ chôn cây chổi với giẻ lau theo bả mới phải”. Từ về làm dâu trong nhà, má sợ bà chị lỡ thời lúc nào cũng lăm lăm hai vật dụng ấy trong tay, quét tước sạch bong, kỳ cọ xoong nồi sáng bóng, nền nhà đất phẳng lì không gợn sóng.
Hồi đó cả nhà chị đều nghĩ cô Hai mắc bịnh sạch sẽ quá mức, cái mà tụi nhỏ bây giờ gọi là hội chứng ám ảnh cưỡng chế. Sâu thẳm trong lòng chị không mấy gần gũi, yêu thương người phụ nữ đơn bạc này, bởi cái áp lực khủng khiếp trong mỗi nhát chổi lúc hừng đông, trong âm thanh bùi nhùi cọ vào đáy nồi kim loại, trong tấm kiếng soi bóng ngời không vết ố. Dù cô quét dọn trong lặng lẽ chẳng lớn tiếng sai biểu ai, nhưng thật không phải khi một người thì lụi hụi làm mà ta chỉ ngồi chơi dong dãi. Và hơn hết, ở cô đậm đặc thứ gì đó như là sự vô vọng, của một kẻ nguội lạnh niềm vui sống.
Giờ mỗi khi quét lá ngang nơi có cô mình nằm, chị nghĩ chắc là bà ấy chẳng bị ám ảnh chi, chỉ là với một người phụ nữ hẩm hiu không chồng con, thời gian là rộng dài khôn tả. Và sự trống trải thì nở ra vô biên một khi ta nhàn hạ, ở cái xó quê vào cái thời chẳng có gì để giải khuây.
Vậy là một số người, chống trả sự cô quạnh bằng cách làm cho mình quá chừng bận rộn, vào việc giành của đất từng chiếc lá, từng nhánh cây khô. Vườn xói mòn qua bao mưa nắng, trơ thứ đất chai lì, không được đắp ẩm, không sự phân hủy nào trên bề mặt. Đất đói meo chất hữu cơ, mùn và vi khoáng. Mỗi lần gom đống tro lá sau khi đốt trả lại những gốc cây ngày càng gầy rạc, nghĩ từng này thôi thì thấm tháp gì. Cảm thấy áy náy như mình vừa đốt đi bộ da của đất.
Nhưng nghĩ tới chạng vạng bữa mai, trong ánh ngày tắt lịm cuối vườn, linh hương thắp đỏ ban thờ giữa nhà, trong âm thanh tu hú gọi bầy thảng thốt và những cánh dơi lướt xoẹt qua tàng cây, tiếng gọi cơm chiều ới lên bên xóm, một bà mẹ hét toáng giục trẻ con đi tắm mau mau, nhớ tới con cháu mình giờ đang sâu giấc ở cái xứ sở cách chị đến mười ba giờ bay, những cuộc gọi của chúng ngày càng ngắn, vội, chị biết làm gì chống lại cái lạnh lan đâu đó từ trong xương tủy, nếu không đốt lên một đám lửa gom từ mớ lá trong vườn?
Nguồn Gia Đình VN: https://giadinhonline.vn/tan-van-nguyen-ngoc-tu-tro-la-d210886.html











