Tăng tốc hoàn thiện thể chế, chuẩn bị vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon
Với các nghị định, thông tư mới được ban hành, cùng các chương trình đào tạo chuyên sâu, Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình xây dựng và vận hành thị trường các-bon trong nước, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050.
Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực vận hành
Ngày 13/4, trong khuôn khổ dự án hỗ trợ kỹ thuật “Nâng cao năng lực cho Bộ Tài chính trong nghiên cứu mô hình và chuẩn bị vận hành thử nghiệm sàn giao dịch tín chỉ các-bon tại Việt Nam” do Văn phòng Dịch vụ Dự án Liên hợp quốc (UNOPS) tài trợ, Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) phối hợp với UNOPS tổ chức khóa đào tạo về sàn giao dịch tín chỉ các-bon.
Phát biểu khai mạc, bà Vũ Thị Châu Quỳnh - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu lớn của thế kỷ XXI. Sự gia tăng nhiệt độ, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan với tần suất, cường độ ngày càng lớn đang tác động tiêu cực tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, môi trường và sự phát triển bền vững của các quốc gia.
Theo bà Quỳnh, Việt Nam đã sớm tham gia các cam kết quốc tế như Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận Paris, đồng thời đưa ra cam kết mạnh mẽ tại Hội nghị COP26 về mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đại hội XIV của Đảng cũng xác định, phát triển kinh tế gắn với chủ động ứng phó biến đổi khí hậu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Thời gian qua, thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành liên quan tích cực xây dựng năng lực và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để vận hành thí điểm sàn giao dịch các-bon trong nước.
Đáng chú ý, ngày 19/1/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước, cùng với Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-zôn. Bên cạnh đó, Thông tư số 11/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý, vận hành hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon. Ba văn bản này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc vận hành thí điểm sàn giao dịch các-bon.

Quang cảnh khóa đào tạo trong khuôn khổ dự án Hỗ trợ kỹ thuật “Nâng cao năng lực cho Bộ Tài chính trong nghiên cứu mô hình và chuẩn bị vận hành thử nghiệm sàn giao dịch tín chỉ carbon tại Việt Nam”. Ảnh: Tấn Minh
Bà Vũ Thị Châu Quỳnh nhấn mạnh, sàn giao dịch các-bon được kỳ vọng vừa là công cụ kinh tế, vừa là động lực thúc đẩy mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới phát triển nền kinh tế các-bon thấp. Đồng thời, sàn giao dịch cũng sẽ tạo dòng chảy mới cho các hoạt động giảm phát thải, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển công nghệ phát thải thấp và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Các quy định mới cũng hỗ trợ doanh nghiệp từng bước tiếp cận, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới xây dựng chỉ số các-bon thấp. Sàn giao dịch sẽ là nơi tập trung giao dịch cả hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon, cung cấp một nền tảng minh bạch, công khai và công bằng cho các chủ thể tham gia.
Tại sự kiện, ông John Robert Cotton - đại diện Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP) thuộc UNOPS đánh giá cao vai trò lãnh đạo, sự phối hợp và hỗ trợ của Bộ Tài chính trong quá trình triển khai dự án. Ông John Robert Cotton khẳng định, phát triển thị trường các-bon không chỉ là nhiệm vụ ở cấp độ quốc gia, mà còn đóng góp vào nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu. Ông cũng bày tỏ kỳ vọng, các đại biểu sẽ tích cực trao đổi, chia sẻ ý kiến, qua đó nâng cao hiệu quả của chương trình và thúc đẩy tiến trình triển khai trong thời gian tới.
Xác lập hàng hóa giao dịch, từng bước thí điểm
Chia sẻ về nội dung hàng hóa giao dịch và lộ trình phát triển thị trường, ông Phạm Nam Hưng - đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại Hội nghị COP26. Theo đó, việc hình thành và phát triển thị trường các-bon là yêu cầu tất yếu. Đồng thời, đây cũng là công cụ quan trọng nhằm thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, chuyển dịch sang nền kinh tế các-bon thấp.
Theo ông Phạm Nam Hưng, thị trường các-bon đã được nhiều quốc gia trên thế giới triển khai như một cơ chế hiệu quả để tạo động lực giảm phát thải. Cơ chế này vận hành thông qua việc “hàng hóa hóa” lượng phát thải khí nhà kính, qua đó cho phép định giá và giao dịch. Tại Việt Nam, quá trình xây dựng thị trường các-bon được triển khai từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực. Tiếp đó, các nghị định và quy định liên quan được ban hành trong giai đoạn 2022 - 2026, từng bước hình thành khung pháp lý cho thị trường.
Đáng chú ý, Nghị định số 112/2026/NĐ-CP của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon đã mở ra cơ chế cho phép trao đổi tín chỉ các-bon quốc tế. Cơ chế này tạo điều kiện để các nhà đầu tư trong nước tham gia các cơ chế như Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris hoặc các thỏa thuận song phương. Qua đó, có thể tiếp cận mức giá tín chỉ cao hơn so với thị trường hiện tại.
Về hàng hóa giao dịch, ông Phạm Nam Hưng cho biết, thị trường các-bon Việt Nam tập trung vào hai loại chính, gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Trong đó, hạn ngạch phát thải được phân bổ cho các cơ sở phát thải lớn. Hiện đã xác định danh mục 110 cơ sở thuộc 3 lĩnh vực có mức phát thải cao là nhiệt điện, sắt thép và xi măng, với tổng lượng phân bổ hơn 500 triệu tấn trong giai đoạn 2025 - 2026.
Đối với tín chỉ các-bon, các doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể phát triển các dự án giảm phát thải để tạo ra tín chỉ và tham gia giao dịch trên thị trường. Đáng chú ý, Việt Nam cho phép các doanh nghiệp sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ cho phần phát thải vượt hạn ngạch, với tỷ lệ lên tới 30%. Đây là điểm khác biệt so với một số thị trường quốc tế, nhằm tạo điều kiện linh hoạt cho doanh nghiệp trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Bên cạnh đó, ngoài các doanh nghiệp thuộc diện được phân bổ hạn ngạch, các chủ thể khác cũng có thể tham gia mua bán tín chỉ các-bon. Cơ chế này góp phần gia tăng tính thanh khoản cho thị trường.
Về lộ trình phát triển, ông Phạm Nam Hưng cho biết, giai đoạn 2026 - 2028 sẽ là thời kỳ thí điểm, trọng tâm là vận hành cơ chế hạn ngạch phát thải. Trong giai đoạn này, cơ quan quản lý sẽ vừa triển khai, vừa theo dõi, đánh giá và từng bước hoàn thiện cơ chế. Cơ sở dữ liệu được sử dụng là kết quả kiểm kê khí nhà kính do doanh nghiệp cung cấp./.
Việc phân bổ hạn ngạch được tính toán dựa trên cường độ phát thải. Do đó, có thể xuất hiện sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, phụ thuộc vào dữ liệu và phương pháp tính toán. Sau giai đoạn thí điểm, Việt Nam sẽ tiến hành tổng kết và đánh giá. Nội dung đánh giá bao gồm hiệu quả giảm phát thải, mức độ vận hành của thị trường, cũng như khả năng thu hút nguồn lực tài chính và công nghệ cho hoạt động giảm phát thải. Trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng sẽ đề xuất điều chỉnh chính sách, hoàn thiện khung pháp lý và mở rộng thị trường trong giai đoạn tiếp theo.











