Tạo sự đột phá trong chăm sóc thể chất và dinh dưỡng cho trẻ em
Trao đổi tại Hội thảo 'Phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam-Kiến tạo nguồn lực cho kỷ nguyên mới' (do Báo Nhân Dân phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội, ngày 12/5), nhiều đại biểu cùng chung quan điểm cho rằng, công tác dinh dưỡng cho trẻ em thời gian qua còn bộc lộ không ít tồn tại, bất cập.

Quang cảnh Hội thảo “Phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam-Kiến tạo nguồn lực cho kỷ nguyên mới”. (Ảnh: THẾ ĐẠI)
Số liệu thống kê của Bộ Y tế, cho thấy: từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam giảm từ 29,3% xuống 19,6%, chuyển từ mức cao sang mức trung bình theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về vấn đề sức khỏe cộng đồng.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ học đường (5 tuổi đến 19 tuổi) là 14,8% (so với năm 2010 là 23,4%). Điều này góp phần giúp Việt Nam hoàn thành Mục tiêu 2.2 Phát triển bền vững (SDGs) (hạ tỷ lệ SDD thấp còi xuống mức thấp <20%).
Đáng chú ý, chiều cao trung bình của nam thanh niên 18 tuổi đạt 168,1cm (tăng 3,7cm so với năm 2010), nữ đạt 156,2cm (tăng 2,6cm). Đây là kết quả của một quá trình can thiệp dinh dưỡng bền bỉ qua nhiều thế hệ, giúp Việt Nam không còn thuộc nhóm “lùn nhất Đông Nam Á”.
Hiện nay, Việt Nam đứng thứ tư về chiều cao trung bình trong khu vực sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Trong khi đó, theo báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu năm 2019, học sinh 13 tuổi đến 17 tuổi ở Việt Nam, cứ bốn em có một em (24,1%) có hoạt động thể chất đủ so với khuyến cáo của WHO, ít nhất 60 phút/ngày từ năm ngày trong một tuần), đây cũng là một sự thay đổi tích cực so với tỷ lệ của năm 2013 (20,5%).
Tuy nhiên, hiện công tác chăm sóc dinh dưỡng, thể chất cho trẻ em lứa tuổi học đường tại Việt Nam còn bộc lộ không ít tồn tại, bất cập, đó là: gánh nặng kép về dinh dưỡng: mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân đã giảm nhưng vẫn còn cao ở vùng nông thôn, miền núi, khó khăn, dân tộc thiểu số; tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 7,4% (9,8% ở thành thị; 5,3% ở nông thôn) và rất cao ở trẻ học đường (5 tuổi đến 19 tuổi) gia tăng nhanh gấp hai lần sau 10 năm (19% năm 2020, trong đó tăng nhanh ở thành thị và khu vực phát triển là 26,8%) kèm theo đó là hệ lụy gia tăng các rối loạn chuyển hóa dinh dưỡng và mắc các bệnh không lây nhiễm ở học sinh.
Gánh nặng kép về dinh dưỡng: mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân đã giảm nhưng vẫn còn cao ở vùng nông thôn, miền núi, khó khăn, dân tộc thiểu số; tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 7,4% (9,8% ở thành thị; 5,3% ở nông thôn) và rất cao ở trẻ học đường (5 tuổi đến 19 tuổi) gia tăng nhanh gấp hai lần sau 10 năm (19% năm 2020, trong đó tăng nhanh ở thành thị và khu vực phát triển là 26,8%) kèm theo đó là hệ lụy gia tăng các rối loạn chuyển hóa dinh dưỡng và mắc các bệnh không lây nhiễm ở học sinh.
Trong khi đó, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (sắt, kẽm, vitamin D) vẫn còn phổ biến và khá cao, nhất là ở nhóm đối tượng có nguy cơ cao và ở vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng có tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng cao. Theo điều tra năm 2020, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam là 19,6%; tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em dưới 5 tuổi là 9,5%; tỷ lệ thiếu kẽm đặc biệt rất cao ở trẻ dưới 5 tuổi là 58% năm 2020.
Ngoài ra, chất lượng bữa ăn học đường chưa đồng đều, thiếu cân đối, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; tình trạng ăn uống bất hợp lý, không cân đối các chất dinh dưỡng tại vùng đô thị do xu hướng ăn nhiều các loại thực phẩm tinh chế, thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh và nước uống có đường đã và đang hình thành những thói quen ăn uống không lành mạnh làm gia tăng các rối loạn chuyển hóa dinh dưỡng và các bệnh không lây nhiễm… Việc này góp phần ảnh hưởng đến sự phát triển về chiều cao ở trẻ, đặc biệt đối với những trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi khi nhỏ ở nước ta.
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đã đưa ra một số chỉ tiêu về cải thiện tình trạng dinh dưỡng; cải thiện chiều cao cho trẻ em và thanh thiếu niên đến năm 2030 như: tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 15% (khu vực miền núi dưới 23%); tỷ lệ suy dinh dưỡng gầy còm trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 3%; tỷ lệ thừa cân béo phì được kiểm soát với các chỉ tiêu trẻ từ 5 đến 8 tuổi ở mức dưới 19% (khu vực thành phố dưới 27% và khu vực nông thôn dưới 13%) đến năm 2030…
Đáng chú ý, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” cũng đặt ra mục tiêu về nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc của nhân dân. Cụ thể, đến năm 2030 tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1 tuổi đến 18 tuổi thêm tối thiểu 1,5 cm; tầm nhìn đến năm 2045 là tầm vóc, thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức phát triển.
Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” cũng đặt ra mục tiêu về nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc của nhân dân. Cụ thể, đến năm 2030 tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1 tuổi đến 18 tuổi thêm tối thiểu 1,5 cm; tầm nhìn đến năm 2045 là tầm vóc, thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức phát triển.
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Bộ Y tế đã chủ trì xây dựng Luật Phòng bệnh và được Quốc hội Khóa XV thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Luật có một chương riêng quy định về dinh dưỡng trong phòng bệnh được thực hiện trong suốt vòng đời, chú trọng dinh dưỡng từ khi thai nhi đến trẻ được 24 tháng tuổi (1.000 ngày đầu đời) và dinh dưỡng cho trẻ em.
Hiện Bộ Y tế đang tiếp tục tham mưu, xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh, trong đó quy định rõ các biện pháp can thiệp dinh dưỡng trong phòng bệnh; phát hiện sớm, điều trị dự phòng, quản lý suy dinh dưỡng cấp tính và các biện pháp thực hiện dinh dưỡng khác cho trẻ em thuộc một số nhóm ưu tiên. Nghị định cũng quy định các hoạt động dinh dưỡng hợp lý, hoạt động thể lực triển khai trong cơ sở giáo dục. Đây là những giải pháp quan trọng nhằm từng bước bảo vệ, cải thiện và nâng cao sức khỏe cho trẻ em Việt Nam.
Mặt khác, các chuyên gia dinh dưỡng cũng khuyến nghị ngành y tế, giáo dục, chính quyền các địa phương sớm xây dựng vị trí việc làm, tiêu chuẩn năng lực cho cán bộ làm công tác y tế trường học, dinh dưỡng học đường; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ nhân viên y tế trường học, với mục tiêu mỗi cơ sở giáo dục có ít nhất một cán bộ chuyên trách y tế trường học được bồi dưỡng, đào tạo về dinh dưỡng học đường; huy động các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng và doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia đầu tư, hỗ trợ cải thiện cơ sở vật chất và triển khai các mô hình dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực phù hợp; chuẩn hóa các hướng dẫn kỹ thuật như các phần mềm đánh giá tình trạng dinh dưỡng, phần mềm xây dựng thực đơn trên phạm vi toàn quốc.











