Tập trung vốn cho tăng trưởng
Trong giai đoạn tới, bài toán vốn phục vụ tăng trưởng hai con số không đơn thuần nằm ở khả năng huy động thêm nguồn lực, mà còn ở việc tổ chức lại cấu trúc vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho biết, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13 - 15%/năm. Tổng nhu cầu vốn đầu tư ước tính lên tới 280 - 300 tỷ USD/năm; yếu tố vốn dự kiến đóng góp khoảng 40 - 42% vào tăng trưởng kinh tế. Đáng chú ý, ngân sách nhà nước dự kiến chỉ đáp ứng khoảng 22% tổng nhu cầu vốn. Phần còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
Không chỉ đối mặt với yêu cầu huy động lượng vốn lớn, nền kinh tế còn phải giải quyết những hạn chế trong phân bổ và sử dụng nguồn lực. Ông Lực phân tích, cơ cấu huy động vốn hiện nay còn mất cân đối khi nguồn vốn cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, thị trường chứng khoán, bao gồm thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, chưa phát huy tương xứng tiềm năng. Điều này đặt ra thách thức khi nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn ngày càng lớn, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng, sản xuất công nghiệp, chuyển đổi năng lượng và phát triển công nghệ. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, áp lực huy động vốn và cân đối kỳ hạn của các tổ chức tín dụng sẽ gia tăng. Do đó, cần tìm giải pháp bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, góp phần giảm áp lực đối với hệ thống tín dụng, tạo điều kiện phân bổ nguồn lực phù hợp hơn với nhu cầu đầu tư.
Không chỉ vậy, chuyên gia tài chính Nguyễn Thị Ngọc Hà còn cho biết, một trong những hạn chế là nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); đồng thời, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn. Khả năng tiếp cận, huy động và sử dụng nguồn lực giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương chưa đồng đều. Tính đến hết quý III/2026, tỷ lệ giải ngân đầu tư công mới đạt 62,9% kế hoạch. Trong đó, khối cơ quan Trung ương đạt 44,1%, thấp hơn đáng kể so với mức 73,6% của các địa phương. Những con số này cho thấy nguồn vốn đã được bố trí nhưng chưa thể đưa vào nền kinh tế theo tiến độ kỳ vọng. Việc chậm giải ngân không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ngân sách mà còn hạn chế khả năng tạo động lực cho đầu tư tư nhân và các hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan.
Trong bối cảnh đó, một nguồn lực rất lớn lại đang nằm trong các dự án gặp khó khăn, vướng mắc. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 751 ghi nhận cả nước có 5.012 dự án khó khăn, vướng mắc, với tổng diện tích sử dụng đất 213.581ha, tổng mức đầu tư gần 3,69 triệu tỷ đồng. Trong đó, mới chỉ có 3.557 dự án, chiếm 71% tổng số dự án, với tổng mức đầu tư hơn 2,49 triệu tỷ đồng, đã được xử lý, không còn khó khăn, vướng mắc. Số dự án còn lại vẫn đang được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xử lý theo thẩm quyền…

Bài toán vốn của Việt Nam trong giai đoạn tăng trưởng mới không đơn thuần nằm ở khả năng huy động thêm nguồn lực, mà còn ở việc tổ chức lại cấu trúc vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ
Theo tính toán của chuyên gia, nếu trong giai đoạn 2026 - 2028, toàn bộ khoảng 5.000 dự án được tháo gỡ và mỗi năm có khoảng 30% lượng vốn này được bổ sung vào nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể tăng thêm 0,6 - 0,8 điểm phần trăm mỗi năm. Do đó, việc tháo gỡ những dự án đang đình trệ là giải pháp thiết thực để khơi thông nguồn lực, tạo thêm động lực tăng trưởng tại các địa phương.
TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đặt vấn đề cần làm rõ những vướng mắc nào có thể được xử lý bằng cơ chế nào. Việc xác định đúng thẩm quyền và trách nhiệm của từng chủ thể là điều kiện để quá trình tháo gỡ chuyển từ đề xuất phương án sang giải quyết những khó khăn cụ thể tại từng dự án.
Để tháo gỡ các dự án bất động sản tồn đọng, theo luật sư Phạm Thanh Tuấn, cần thực hiện ba bước: phân loại đúng vướng mắc, ban hành chính sách phù hợp và triển khai quyết liệt tại địa phương. Trước hết, từng địa phương phải xác định cụ thể dự án đang vướng ở đâu, nguyên nhân là gì, từ đó phân định những vấn đề có thể chủ động giải quyết và những vấn đề cần cơ chế của Trung ương. Ngân hàng có vai trò cung cấp vốn, nhưng chỉ có thể tài trợ khi dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý. Vì vậy, sự chủ động, quyết liệt của chính quyền địa phương trong giải quyết các thủ tục, vướng mắc thuộc thẩm quyền có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng khơi thông dòng vốn đầu tư. Trên cơ sở này, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền mới có thể xây dựng giải pháp phù hợp với từng nhóm vướng mắc. Khi chính sách đã được ban hành, địa phương phải khẩn trương tổ chức thực hiện, tránh để dự án tiếp tục đình trệ.
Bên cạnh đó, việc phát triển các kênh huy động vốn cũng cần được quan tâm. TS. Cấn Văn Lực cho rằng, nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn ngày càng lớn, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng, sản xuất công nghiệp, chuyển đổi năng lượng và phát triển công nghệ. Do đó cần phát triển mạnh thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng. Đây không chỉ là giải pháp bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, mà còn góp phần giảm áp lực đối với hệ thống tín dụng, tạo điều kiện phân bổ nguồn lực phù hợp hơn với nhu cầu đầu tư.
Bên cạnh các kênh huy động truyền thống, cần khai thác hiệu quả những nguồn lực còn nhiều dư địa như tài chính xanh, kiều hối, du lịch, thặng dư thương mại, thị trường carbon, đất đai và các quỹ tài chính ngoài ngân sách. Đối với nguồn vốn quốc tế, việc huy động cần gắn với các dự án cụ thể, có tính khả thi và khả năng hấp thụ vốn. Đồng thời, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, nâng cao chất lượng hàng hóa và quản trị trên thị trường chứng khoán, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và phát triển hạ tầng dữ liệu. Cùng với đó, cần đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính và đất đai, tạo điều kiện để các dự án sớm được triển khai.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tap-trung-von-cho-tang-truong-189695.html
